Theo bảng xếp hạng của trang web Webometrics, ĐHQG Hà Nội đã vươn từ
thứ hạng 1.125 trên 12.000 trường (vào tháng 7-2011) lên thứ 743 trên
20.300 trường tháng
1-2012.
|
|
ĐHQG Hà Nội với thứ hạng 22 trong khối Đông
Nam Á |
Cũng theo Webometrics, ở khối Đông Nam Á, ĐHQG Hà Nội xếp hạng 22 lên 7 bậc (29)
so với tháng 7/2011.
Lần đầu tiên Webometrics có bảng xếp hạng của Việt Nam với 117 cơ sở đại học,
trong đó, ĐHQG Hà Nội giữ vị trí số 1, thứ 2 là Trường Đại học Cần Thơ với vị trí 1.649 thế
giới, thứ 3 là Trường ĐH Bách khoa thuộc ĐHQG TP.HCM với vị trí 2.008 thế giới.
Top 100 thế giới hầu như không có thay đổi với tốp dẫn đầu theo thứ tự là ĐH
Harvard, Viện Công nghệ Masachusetts, ĐH Stanford của Mỹ. ĐH Toronto (Canada)
xếp hạng 17, ĐH São Paulo USP (Brazin) thứ 20, Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ
thứ 24, ĐH Cambridge (Anh) thứ 25.
Các cơ sở ĐH của Mỹ gần như chiếm tuyệt đối
trong bảng xếp hạng của thế giới, chiếm 155 trường trong top 500 ĐH, 255 ĐH
trong top 1000. Tiếp theo là Đức với 62 trường, Canada 33 trường, Anh 65 trường,
Ý 39 trường, Đài Loan 32 trường.
Top 100 Châu Á có sự thay đổi khi ĐH Tokyo (Nhật bản) xuống thứ 2 nhường chỗ
cho ĐH Quốc gia Đài Loan (Đài Loan - TQ), tiếp theo là 2 ĐHQG Cheng Kung, ĐHQG
Chiao Tung (Đài Loan - TQ), ĐH Kyoto (Nhật Bản) thứ 5, ĐHQG Singapore thứ 6, ĐH
Thanh Hoa (TQ) thứ 7, ĐH Bắc Kinh (TQ) thứ 8, ĐH Công nghệ Hong Kong (TQ) thứ 9
và thứ 10 là ĐHQG Sting Hua (Đài Loan - TQ).
Ở top 100 Châu Âu cũng có sự hoán đổi vị trí, ĐH Cambridge (Anh) xuống vị trí
thứ 2 nhường chỗ cho Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ (Thụy Sĩ), các vị trí lần
lượt tiếp theo là ĐH Oxford (Anh), ĐH Bách khoa Catalunya Barcelona (Tây Ban
Nha), ĐH College London (Anh), ĐH Utrecht (Hà Lan), ĐH Freiburg (Đức), ĐH Ghent
(Bỉ), ĐH Bologna (Ý) và ĐH Wien (Áo).
Theo thống kê top 500 các cơ sở đại học, khu vực Châu Âu chiếm 212 trường,
tiếp theo là Bắc Mỹ chiếm 178 trường, Châu Á 66 trường, Mỹ Latin 19 trường, Châu
Đại dương 20 trường, Châu Phi 3 trường, khối Arab 2 trường.
Có sự thay đổi cơ bản trong việc thu thập dữ liệu lần xếp hạng lần này,
Webometrics không chỉ tính các bài báo khoa học xuất bản trên website mà còn kết
hợp thêm các chỉ số các bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học quốc tế
(xem tại đây: www.scimagoir.com) của các cơ sở đại học trong giai đoạn 2003 -
2010 từ nguồn thống kê của bảng xếp hạng quốc tế Scimago với điểm trọng số là
30% (xem thêm cách xếp hạng tại đây).
Với cách xếp hạng được thay đổi lần này, Webometrics dần hướng đến cả 3 yếu
tố: mức độ số hóa, năng lực nghiên cứu và mức độ quốc tế hóa của các cơ sở đại
học.
ĐHQG Hà Nội giữ vững vị trí số 1 ở Việt Nam với thứ hạng 22 trong khối Đông
Nam Á và lần đầu tiên Việt Nam có mặt trong top 1000 thế giới.
(Nguồn: VNN)