Phút giao thừa cứ đến rồi đi, lặng lẽ
và êm đềm. Năm mới ùa về tự lúc nào. Lòng người nôn nao, ai cũng cầu
trời đất phù hộ cho cả nhà sang năm mới “mưa thuận gió hòa”.
Quê tôi là vùng lũ, năm nào cũng có vài
cơm bão đổ bộ vào kéo theo bao nhiêu nhà cửa, mùa màng mất mát. Kinh tế
càng khó khăn hơn, nhà nào có lao động chính đi biển còn có cái ăn, còn
bình thường ở nhà trông chờ vào mấy sào ruộng mùa được mùa mất thì đói
kém lắm.
Nhưng tết đến vẫn phải no đủ, cũng phải
có cây đào trong nhà. Nhà có điều kiện còn tậu thêm cả cây quýt xum xuê
quả là quả. Mỗi năm ông Nội đan cho nhà tôi một cái thuyền nhỏ bằng cái
quạt nan để treo trước cửa, nhìn rất tỉ mỉ và cẩn thận. Tôi tưởng tượng
và thấy bố và anh trong đó và thổn thức chờ đợi.
Những ngày giáp tết thế này là không
khí lại bắt đầu náo nhiệt ở xóm chài nhỏ. Mẹ bỏ vôi đã tôi vào chậu
nước, hòa tan rồi lấy chổi quét lên các bức tường để đón chào năm mới.
Bao nhiêu rêu phong của năm cũ bị lớp vôi trắng xóa tan. Lòng người cũng
nhẹ nhàng hơn khi nhà ai kia có mùi bánh chưng bắt đầu lan tỏa. Tôi thì
người nhỏ làm việc nhỏ nên mẹ giao cho nhiệm vụ lau rửa mấy cảnh cửa và
quét dọn nhà.
… Những ghe cá dù đầy, dù vơi nhưng đã
đáp đỗ, cập bến là ai nấy đều tươi rói. Tuy kinh tế không khá giả nhưng
mọi người sống với nhau bằng tình nghĩa. Nhà nào thiếu gạo nếp sẽ đi vay
mượn và có thể bù lại bằng thịt mỡ. Lá dong thiếu thì đi xin nhà còn
thừa. Chuyện vay mượn, cho, xin rất tự nhiên chứ không ngại ngùng. Không
khí tết vì thế càng trở nhộn nhịp hơn bằng chính những lời nói vọng từ
nhà này sang nhà khác: “Nhà bác còn thừa lá dong không? Nhà em thiếu mất
6, 7 lá…”
Phiên chợ tết, mẹ cho tôi đi cùng để
vác hai cây mía về nhà. Hai cây mía được mẹ lựa rất kỹ, phải ít mắt, dài
ống để dựng hai bên bàn thờ vì mía trong ngày tết là gậy của ông Vải.
Chiều 30, mẹ nấu cơm rước ông Vải về nhà.
Ngày mai, có lẽ mẹ con tôi và bao nhiêu
gia đình khác sẽ cùng nô nức chạy ra bờ biển để chờ đợi những ghe đánh
cá. Hương tết của nhà tôi mang cả ra biển, nơi có bố và anh.
(Theo Tuổi trẻ)