Thứ năm, 09/02/2012 06:56AM
Từ ngày 08-01-2011, Báo Hải Dương phát hành hằng ngày với các ấn phẩm: Hải Dương hằng ngày và Hải Dương cuối tuần. Báo Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Báo Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày !
Năm mão, nói chuyện mèo
Loài hổ trong ngôn ngữ dân gian
  01/02/2010 08:16:02 AM

Phong thái ung dung, dáng vẻ oai nghiêm, mắt sáng, bước đi lặng lẽ uyển chuyển, vồ mồi chớp nhoáng, sức mạnh vô biên... Đó là những phẩm chất làm lên sự oai linh của loài hổ.

Hổ sống ở rừng già, được mệnh danh là "Chúa rừng xanh", "Với tiếng gió gào ngàn với giọng nguồn hét núi"(*), mỗi khi hổ gầm là "Khiến cho mọi vật đều im hơi"(*). Hổ còn có tên là cọp, là hùm, là khái, là "Ông ba mươi". Người Tày gọi hổ là tu xưa, người Dao gọi là tầm xưa, người Mường gọi là phạn, người Mông gọi hổ là phur. Từ xa xưa, trong tiềm thức người ta đã lấy hình ảnh của hổ để tượng trưng cho sức mạnh quyền uy.

Vào dịp tết, nhiều nơi có phong tục treo tranh ngũ hổ trong nhà để cầu mong một năm mạnh mẽ. Tranh ngũ hổ còn được gọi là ngũ hành, gồm hổ trắng (Hành bạch), hổ xanh (Hành mộc), hổ đen (Hành thủy), hổ đỏ (Hành hỏa) và hổ vàng (Hành kim).

Ngày xưa, người đỗ đạt cao thường được ghi danh vào "Hổ bảng". Hổ bảng tượng trưng cho tấm bia thư vinh danh lưu hậu thế. Hổ còn được dân gian ví như rồng. Rồng vốn là con vật tượng trưng đại diện cho sự cao sang và mạnh mẽ thì hổ cũng chẳng kém gì. "Long hành hổ bộ" là ý nói bay lượn như rồng và bước chân như hổ. Mỗi khi hổ bước đi trên thảm lá như "Lượn tấm thân sóng cuộn nhịp nhàng"(*), uyển chuyển và dứt khoát.

Phàm những nơi nào được chọn là nơi xây dựng thành quách, đền đài, dinh thự, nơi trú quân khởi binh, người ta tìm đến nơi "hổ cứ", xem đó là cái thế, có núi có sông, tiến thoái đều hợp lý. Còn khi đặt hướng đền đài, dinh thự, người ta cũng xem thế "tọa hổ", tức là tư thế hổ ngồi rình mồi để thiết kế một phương án tối ưu.

Nhiều khi, người đời mượn cái oai nghiêm của hổ để phân đẳng cấp xã hội. "Hổ môn" là cửa ra vào dành riêng cho các tướng soái, quân lính không được lui tới. Trong đội ngũ các tướng soái ấy, ai mà có vị trí quan trọng hoặc tài giỏi khôn lường thì được mệnh danh là "hổ tướng". Rồi người ta cũng có một phiên hiệu riêng gọi là "hổ phù". Đó là vật trao lệnh, một nửa giao cho các tướng soái để làm nhiệm vụ, một nửa vua giữ làm tin, gần giống như "sơn bài" khi xung trận.

"Hổ vồ mồi" được tả nhanh như ngọn gió và nó tượng trưng cho sức mạnh phi thường. Con hổ có thể vồ cả con trâu lớn hơn nhiều lần nó. Hổ có thể vác con lợn tạ nhảy qua suối một cách nhẹ nhàng. Kinh nghiệm bắt hổ là phải "điệu hổ ly sơn". Những người dũng cảm như Võ Tòng, Lý Quỳ đời Đông Chu cũng chỉ mới đánh chết được hổ dữ chứ chưa bắt được hổ. Muốn bắt được hổ thì phải tìm người có sức khỏe và mưu lược, liều mình "vào hang hổ mới bắt được hổ con" là vậy. Nhiều khi phải tìm cách cho hổ đấu nhau, đợi cho cả hai hổ bị thương nặng lúc ấy mới hạ gục hổ. Đó là kế "tọa quan sơn hổ đấu" được đem ứng dụng trong thực tế cuộc sống.

Hổ khỏe, nhưng không có nghĩa là con người không trị được hổ. Truyện dân gian Trí khôn nói về con hổ ngu dại để cho người trói vào cọc rồi châm lửa đốt, khiến nó còn dấu tích vằn lông đến ngày nay là ca ngợi trí thông minh của anh nông dân. Đến như con cáo cũng "đội lốt hổ" để nhờ cái vía của hổ mà dọa chính hổ và các con vật khác trong rừng. Hổ thuộc họ mèo nhưng không biết leo trèo như mèo, nên dân gian thêu dệt mèo là cô của hổ, dạy cho hổ vồ mồi chứ không dạy cho hổ trèo cây.

Cũng có khi cái sự oai linh mạnh mẽ của hổ lại được người đời coi đó là nỗi đáng sợ. "Dưỡng hổ di hại" chính là thức tỉnh tính cảnh giác phản chủ, khác nào "Nuôi ong tay áo". Thày tu vốn hiền từ, nhưng kẻ nào độc ác mà giả nhân giả nghĩa thì được ví "Hổ đội lốt thày tu". Người đời có câu "Hổ vằn ngoài da, người vằn trong bụng" là ý nói con người ta lòng dạ khó lường, tráo trở có khi, nhưng đâu có bộc lộ ra người mà biết. "Hổ đi báo tới" là chuyện chẳng lành, tai họa chẳng chịu buông tha, cũng là nói tới "họa vô đơn chí" là vậy.

"Hùm đói tranh mồi", người đời đã lấy đi cái sự oai nghiêm của hổ để khái quát cái sự tranh ăn, ẩu đả đến là dữ dội ghê gớm. Rồi cái xấu của hổ cũng được ví như "ăn như hùm đổ đó". Ăn chặn, lừa lọc cướp công của kẻ khác cũng được xem như "ky cóp cho cọp nó ăn".

Nơi nào nhiều cạm bẫy, chết chóc, nơi ấy được gọi là nơi "hùm thiêng rắn độc". Rồi kẻ nào đó đúng bị trị tội thì người đời trách cứ "hùm tha ma bắt".

Hổ là loài mãnh thú ăn thịt được ví "dữ như cọp" nên đã ai dám "vuốt râu hùm" bao giờ. Cái sự vuốt râu hùm chẳng qua chỉ có kẻ nào "điếc không sợ súng" mới dám mơn trớn đùa nghịch với hổ, mà nhất lại là "hổ đói".

Dân gian nhận xét tinh tế nên mượn hổ, một loài vật dữ để nói về một việc khác ở đời. Đó là bản năng của tình mẫu tử "hổ dữ cũng không ăn thịt con" là vậy.

Từ con hổ, người đời có câu giáo lí "họa hổ bất thành" là nói rằng: muốn làm việc lớn mà không thành (vẽ hổ không thành hổ có khi lại thành cẩu). Ca dao có câu "Dẫu cho họa hổ bất thành. Cũng xin biện giải cho đành dạ ai".

Hổ dũng mãnh và dữ tợn thật nhưng hổ cũng có tình nghĩa với người. Nhiều truyện dân gian kể về con hổ bắt lợn nhưng nghĩ tình cảnh của người lại vác lợn trả lại người. Truyện Mả hổ táng ghi lại tình cảm của con hổ với người đánh cá nọ. Ngày ngày người đánh cá chia phần cho hổ ăn, nhưng một hôm người đánh cá khoác áo mưa đi qua chỗ hổ, hổ tưởng người lạ nên vồ chết. Hổ hối hận và thương xót đem xác người đánh cá chôn ở ven rừng ngày ngày phủ phục thương nhớ. Cái mả đó mối đùn ngày một to ra, sau này dân trong vùng gọi là đống mả hổ táng.

Con hổ tượng trưng cho sức mạnh và sự thiêng liêng của núi rừng, oai linh của muôn loài đã đi vào ca dao, thành ngữ và những lời thơ hùng tráng. Mượn cái oai linh của hổ, dân gian khéo vận dụng vào đời sống để răn dạy người đời là thế.

(*) Ý trong bài thơ ''Nhớ rừng'' của Thế Lữ

TIÊU HÀ MINH