Ở cố đô Huế hiện còn di tích độc đáo có tên là di tích “Hổ quyền”,
đây là nơi ngày xưa nhà vua chọn làm đấu trường giữa voi và cọp để làm
trò giải trí cho văn thần võ tướng. Để có cọp phục vụ thi đấu với voi, việc
bắt cọp đã trở thành một nghề - nghề nguy hiểm …
Để có những con cọp nhốt trong chuồng sắt, mỗi năm vài ba lần cho cọp thi đấu với voi, người dân làng ở Quảng Trị chuyên bắt sống cọp cống vua. Làng bắt cọp nầy đã thành huyền thoại có tên là làng Thủy Ba.
Đất nước ta có rất nhiều vùng đất có nhiều cọp dữ đã đi vào thành ngữ, tục ngữ nước ta như: Miền Bắc có “Cọp Bảo Hà, ma Trái Hút”, phía Nam Trung bộ có
“Cọp Khánh Hòa, ma Bình Thuận”, và ở miền Trung Trung bộ có
“cọp Thủy Ba, ma Trộ Rớ”. Trộ Rớ là vùng giáp giới hai tỉnh Quảng Bình – Quảng Trị nổi tiếng là rừng thiêng nước độc, người miền xuôi lên rừng kiếm trầm đã một lần lên Trộ Rớ thì không bị sốt ác tính cũng bị cọp ăn thịt. Thủy Ba là một làng phía Tây huyện Vĩnh Linh (Quảng Trị) nổi tiếng về cọp dữ.
Cọp Khánh Hòa tuy nhiều và hung dữ nhưng cũng chỉ thỉnh thoảng bắt bò, bắt người. Nhưng cọp Thủy Ba thì táo tợn và hung dữ hơn nhiều. Cũng do đất nghèo, cọp không kiếm ra nhiều trâu bò để ăn, đói quá phải tìm bắt người. Vì thế do quá bức xúc nên nghề bắt cọp ra đời từ đó.
Huyền thoại ở đây kể lại những điều bí mật về “tính nết cọp” rất kỳ quái, rằng con cọp khi vồ mồi, không kể người hay trâu bò, nếu vồ trúng phải tai, là bỏ lại không ăn. Nhiều lão làng ở Thủy Ba đến nay vẫn không hiểu chuyện lạ lùng này. Hoặc khi cọp bắt được mồi, tha vào núi, bao giờ cũng dựng mồi ngồi hoặc nằm tựa vào gốc cây rồi mới ăn thịt.
Cọp ăn mồi cũng rất lạ, luôn móc mắt, lôi tim, gan, ruột ăn trước. Nếu gặp con mồi do cọp ăn thịt dở dang bỏ lại mà ăn ngược từ chân ăn lên thì người ta gọi là cọp bị “trở mồi”. Con cọp nào đã “trở mồi” là điềm báo rằng nó sẽ chết, thế nào cũng chết vì người săn hoặc bẫy. Cọp Thủy Ba khôn đến mức dân phải gọi là “cọp thành tinh”. Cọp hung dữ, táo tợn nên nhà nào cũng làm hàng rào cao để bảo vệ, ấy thế mà có lần cọp nhảy qua hàng rào vồ được người, bị làng đuổi riết quá, cọp ta vứt người qua hàng rào rồi phóng ra theo, sau đó cắp người chạy tuốt vào rừng ăn thịt.
Hầu như không một xóm nhỏ nào ở Thủy Ba không có người bị hổ vồ. Muốn bắt cọp, dân làng phải dùng lưới bện bằng cây sót, một loại dây leo mọc ở rừng sâu. Sự dẻo dai của nó mới có thể trị những cú húc khủng khiếp của chúa sơn lâm. Thân cây sót đốn từ rừng về, dùng chày gỗ đập dập ra ngâm nước vôi chừng vài tuần. Bột gỗ rữa ra còn trơ lại sợi. Sợi sót chập làm 3, làm 4 to cỡ ngón tay cái rồi bệnh thành lưới. Mỗi mắt lưới rộng vừa lọt nắm tay. Triêng lưới bện bằng mây song, mỗi “tay lưới”dài 12 mét, rộng 3 mét, nặng đến 2 đòn khiêng.
Làng Thủy Ba có 4 thôn gồm các thôn Thượng, Hạ, Đông, Tây chia làm 6 phường săn cọp gọi là “sâu”, mỗi “sâu” tự sắm sửa từ 4 đến 6 tay lưới do một trưởng sâu chỉ huy. Thời ấy chỉ trừ con cháu các nhà giàu học hành đỗ đạt hay làm chức sắc, còn các tráng đinh khỏe mạnh tuổi từ 17 trở lên điều phải gia nhập phường săn cọp này.
Khi có cọp về làng hoặc người đi làm gặp dấu chân cọp thì báo ngay cho phường. Trưởng sâu và các chức sắc họp, cử người theo dấu vết (gọi là dọi dấu) của cọp xác định vùng cọp ẩn náu, phán đoán và quyết định vùng cần bủa vây. Người được “dọi dấu” phải rất tinh ý, chỉ nhìn lốt chân cọp in trên mặt đất mà phán đoán cọp lớn hay nhỏ, hiền hay dữ, hiện đang cách họ bao xa…
Người dọi thấy dấu thì báo cho làng để làm lễ xin rải lưới gọi là thượng vong, lễ này theo lệ phải giết chết một con gà trống rồi xem chân gà mà bói quẻ tốt xấu. Sau đó, người chỉ huy cho các sâu dựng lưới vây quanh vùng cần bủa vây gọi là “ải”có khi “ải”rộng đến 2 hécta, lưới bện bằng thân sót dựng lên hơi ngả vào trong chừa lại một phần tư đường tròn làm “cửa ải”. Cùng với việc vây lưới quanh ải là phát quang khu rừng trong ải thành 3 đường để chia rừng thành 3 khoảng cách biệt nhau. Một số cây cao trong ải cũng được triệt hạ để đề phòng cọp leo lên nhảy vọt qua lưới. Một số trai tráng được phân công cầm mác, nạng chờ sẵn ngoài vòng lưới, một bộ phận gồm những người gan góc, khỏe mạnh lùng sục dồn cọp vào lưới. Khi hồi chuông, trống gióng lên, thúc dồn, người phường trưởng ra lớn:
“Thủy Ba đứng dậy cho đều
Nghe tiếng ta reo, hùm vọt dậy”
Người bốn phía cùng hô theo đồng thanh: “Reo, reo, reo”…Họ vừa hô, vừa khép chặt vòng vây, cọp từ một trong ba khoảng rừng kia lao vọt qua khoảng rừng khác, mọi người lập tức nhổ lưới đẫy vây lấy khoảng rừng cọp vừa chạy vào. Cọp là giống thú tinh khôn và hung giữ, nhất là lúc bị dồn vào thế cùng, nó lại càng dữ tợn hơn bao giờ hết.
Thường lúc này cọp nằm im trong các lùm cây rậm, đến lúc thật nguy ngập nó bất thần nhảy ra tấn công phường săn. Những người vào ải nhanh chóng phản xạ với miếng võ “gia truyền” là “thiên lôi giáng”. Cọp nhảy vọt lên thật cao rồi phủ xuống đầu người để cắn xé, người cầm nạng sẽ kịp chĩa ngược nạng lên hất cọp nhào trở lại. Khi vòng trong vòng ngoài hò reo, cọp hoảng hồn vọt khỏi chỗ nấp. Đây là lúc quyết liệt nhất, một là cọp lao đầu vào lưới, hai là trực diện vào những người cầm mác, cầm nạng, không ít người đã bị cọp tát cụt tay, gãy chân. Nhưng đây cũng là thời điểm phấn kích, hào hứng nhất của cuộc săn. Không còn lo sợ, quên cả nhọc nhằn, người săn thú chỉ còn một thứ men say bừng bừng, quyết hạ đo ván cọp dũ.
Tiếng thanh la, trống mõ, tiếng hò reo cứ dồn dập, chúa sơn lâm khi sa cơ thất thế cũng…hèn. Vuốt sắc bấu vào mắt lưới, mắt đỏ ngầu, mép phun đầy nhớt dãi, vừa giằng xé các mắt lưới, vừa gầm thét điên dại, tiếng gầm của kẻ sa cơ tuyệt vọng khiến cho người cứng vía nhất đứng gần đấy cũng phải dựng tóc gáy. Mặc cho cọp vùng vẫy, lưới càng bị ép sát, dồn cọp vào khu đất nhỏ hơn, lưới được khóa kín, ba bốn ngày cọp la hét vùng vẩy, lại thêm đói, nên kiệt sức dần. Khi ấy, mọi người tìm cách dồn cọp sang một rọ lớn bằng mây song, rồi từ đó dồn cọp sang một rọ nhỏ hơn, đóng bằng gõ như kiểu “cũi” gọi là rọ kẹp. Người chỉ huy cuộc săn sẽ vinh dự đeo lục lạc vào cổ cọp. Cả làng mới làm lễ cúng xôi gà gọi là lễ hạ vong.
Tiếng tăm làng bắt cọp Thủy Ba đã vọng tới kinh thành, khiến cho triều đình nhà Nguyễn lệnh cho dân làng phải bắt cọp về phục vụ các trận sát đấu voi, cọp ở Hổ quyền. Dân làng Thủy Ba còn truyền tụng một bài vè về vào kinh bắt cọp:
“Mồng sáu sắc hạ vua ra
Từ tờ xuống huyện đòi Thủy Ba đi liền
Đôi vồ làm “ải” Thừa Thiên
Giữ ma độc nước không yên chăng là…”
Bài vè lần lượt kẻ tường tận chi tiết từng ngày, mồng sáu vua ban sắc hạ thì qua mồng tám dân hạ heo làm lễ tế xuống thuyền vào kinh đô. Vào tới Huế, đồn lùng sục một ngày không “dọi” được dấu cọp bèn chia làm hai nhóm: Một nữa gồm 50 người quay về vì thiếu lương thực, nữa kia tiếp tục tìm kiếm lên phía vùng lăng Minh Mạng bây giở. Sau đó, đoàn người phải hạ heo tế trời đất xin cho gặp cọp, rồi dùng trâu làm mồi nhử cọp, đến lúc cọp về bắt trâu thì chuyện giăng ải bắt cọp cũng y như bài bản ở quê.
Từ khi dân ta kháng chiến chống Pháp, đạn bom làm cọp chạy vào vùng sâu, nghề bắt cọp cũng không còn như xưa, hi hữu cọp về làng mới gặp lại hình ảnh các phường săn tay lưới, tay lao vây làng trên xóm dưới, có tiếng rao vang theo tiếng mõ dồn: “Cốc cốc loa loa; lệnh làng đã ra chiêng làng đã đánh, mõ tôi rao: Xóm dưới hàng trên hãy nghe cho rõ:trên có quan viên, dưới dân ba hạng. người có sức vác mác cầm nạng, dân ba hàng gánh lưới cầm dây. Đàn ông lên ải, đàn bà nấu cơm, trên binh đi trước làng nước theo sau; cốc cốc loa loa cọp về quấy phá làng Thủy Ba ra tay, ngay xóm ngày mai về tựu nhà sâu cho đủ…”
Đất nước gian nan nên con người quật cường. Làng Thủy Ba đã đối đầu với cọp dữ để có một nghề rất thượng võ có một không hai trên thế giới. Trong biên niên năm tháng của người Việt, những làng như Thủy Ba xứng đáng được kể đến như một phần bản lĩnh, ý chí và nghị lực sống của người dân miền Trung.
THẠCH HẢN