Thứ bảy, 04/02/2012 21:30PM
Từ ngày 08-01-2011, Báo Hải Dương phát hành hằng ngày với các ấn phẩm: Hải Dương hằng ngày và Hải Dương cuối tuần. Báo Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Báo Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày !
Thư giãn
Huyền thoại “Xe đạp ơi”
  06/02/2010 06:46:24 AM

Minh họa: Phùng Anh Bản
Ông là bố vợ tôi. Nhưng những lúc cao hứng, ông "phong" tôi là "bạn vong niên". Cũng bởi tôi là người duy nhất trong nhà có thể chia sẻ những buồn vui nhân thế trong lúc hầu chuyện ông. Ừ, đã mấy anh rể lấy được lòng bố vợ như tôi. "Dâu con, rể khách" mà. Xin đơn cử một chuyện tôi hầu cờ tướng bố vợ. Một lần giữa đêm, ông đội mưa gió đến gõ cửa nhà tôi. Cô vợ tôi đã tái xanh mặt tưởng có chuyện gì. Nhưng khi tôi ra mở cửa, ông đứng giữa sân bảo: "Tôi thua anh ở con tốt lụt ấy đấy!". Rồi quay gót về thẳng. Cứ tưởng ông giận, nhưng tối hôm sau ông lại gọi tôi sang hầu cờ.

Bảo ông mê xe đạp cũ, như người chơi đồ cổ cũng phải. Thậm chí cái xe đạp với ông còn như một người bạn cố chi, tương phùng. Không hiểu sao ông lại giành "tình yêu" cho cái xe đạp đến thế. Nó có gì hơi cực đoan.

Ông sinh ra, lớn lên ở thành phố này, thuộc típ người có tí "Tây học". Ở đây mỗi góc phố, mảng tường, mỗi viên ngói trầm nâu... đều gắn bó kỷ niệm với ông. Thế nên mới có chuyện, hôm người ta đập phá tòa nhà Bưu điện thành phố (Nhà dây thép cũ), để xây tòa nhà sáu tầng mới, ông cứ đứng thẫn người nhìn tiếc xót. Tất nhiên xây mới là cần thiết. Nhưng giá người ta để lại phần ngôi nhà như một đơn nguyên lưu dấu một kỷ niệm, bên ngôi nhà mới, như thế hay hơn. Ông thuê một anh thợ ảnh đến chụp toàn cảnh tòa nhà Dây thép cũ trước khi nó bị san phẳng. Ai ngờ bức ảnh ấy sau được Bảo tàng thành phố đến mua lại. Ông đã biếu không họ, bởi treo ở Nhà bảo tàng vẫn trang trọng hơn treo ở nhà. Nguyên do là từ việc, khi đào móng để xây ngôi nhà mới, người ta phát hiện có hài cốt cùng một số súng đạn han gỉ. Sau nhờ có cộng tác của ông, cán bộ bảo tàng tỉnh đã xác nhận đó là hài cốt các chiến sĩ hy sinh trong trận chiến đấu bảo vệ Nhà dây thép. Lúc ấy người ta mới thấy việc lưu giữ ngôi nhà là cần thiết.
*    *   *
Năm nay Tết đến sớm. Giữa lúc tháng củ mật, công việc cuối năm vắt chân lên cổ chạy, thì ông bố vợ đến bảo tôi: "Anh giúp bố chuyển nhà". Chuyển nhà? Tôi tròn xoe mắt nhìn ông. Hay là ông bắt đầu giở chứng gàn? Trước đó tôi có nghe chuyện mua bán nhà gì đâu. Ngôi nhà mới to đùng ngã ngửa, sáu mét mặt tiền, giữa một con phố buôn bán, việc kinh doanh đang phát đạt, hà cớ gì phải dời đi. Tôi đem điều thắc mắc này ra hỏi ông. Ông bảo, mình ông ra ở riêng, không có gì quý hơn độc lập tự do. Thực tình thì, cái điều này tôi đã linh cảm từ lâu. Những vết rạn nứt trong tình cảm gia đình, giữa ông với bà vợ, ông với những người con, tôi có biết. Song việc ông ra ở riêng vào thời điểm áp Tết này, tôi vẫn không khỏi bất ngờ.

Vâng, để hiểu rõ câu chuyện, xin được "trích ngang" vài dòng tiểu sử ông bố vợ tôi, cũng như phác họa vài nét về gia cảnh gia đình ông. Ông Vận (tên cúng cơm bố vợ tôi), ngày trẻ được học hành tử tế, từng học trường Bưởi. Sau do gia đình sa sút, không có tiền lo lót chạy việc nên vẫn lênh phêng, đeo tiếng "dài lưng tốn vải". Đã thế, anh Vận lại có phần khiêm tốn về hình thức, mặt rỗ hoa, vết tích của một cơn thủy đậu. Cao không tới, thấp không thông, đường vợ của anh Vận lận đận. Giữa lúc ấy, anh được một ông chủ hãng bánh gai Ninh Giang vời vào làm gia sư dạy chữ cho cô con gái rượu tuổi "cập kê". Cô Thành ra điều kiện với anh giáo: chỉ học đến khi đủ chữ viết thư tình và giao dịch buôn bán. Cô Thành chỉ nhìn đã đủ thấy là một cô gái sắc nước, nói năng giảo hoạt, kế thừa gien gia đình buôn bán. Đúng như lời cô nói, sau năm rưỡi học cô đã đọc thông viết thạo và đùng một cái cô đòi thôi học, lấy chồng. Té ra nguyên nhân "cái đùng" ấy là cái bụng cô nó lùm lùm, với một anh ký ga Sở Khanh mà cô không khai tên.

Việc cô Thành đòi đi lấy chồng, cũng đồng nghĩa với việc anh giáo Vận thất nghiệp. Nhưng số phận một lần nữa mỉm cười với anh. Bù lại điểm yếu xấu trai, anh Vận lại thông minh, chịu khó. Hồi đó anh còn tập tọng viết báo. Do chính bài báo viết về bánh gai Ninh Giang được đăng, mà anh được ông chủ thưởng hậu. Rồi, âu cũng là chữa cháy, ông chủ gả cô Thành cho anh giáo Vận, trước con mắt sửng sốt của không ít người. Ai cũng bảo anh "chuột sa chĩnh gạo". Lúc này cô Thành cũng ưng thuận, bởi cái bụng cô mỗi ngày một to. Sau khi cưới, cô Thành được gia đình chia cho ngay một cửa hiệu, ra ở riêng. Anh giáo Vận vì thế, bớt được tiếng "chó nằm gầm chạn".

Cô Thành được cái tốt nái, đẻ liền một mạch ba đứa con cho anh chồng ngày một gầy xanh xao. Nếu kể cả người con đầu ngoài giá thú, họ có cả thảy bốn mặt con, ba người con trên đều kế thừa gien mẹ giỏi buôn bán, trừ cô út vợ tôi giống bố, thích việc đèn sách, ngu ngơ chuyện kinh tế. (Bởi thế, khi cô lấy tôi, một anh cán bộ Ty văn hóa, vợ chồng tôi lại dẫm vào vết bánh xe cũ của ông bố vợ, tức sống thanh bần với đồng lương ba cọc ba đồng).

Đến năm hòa bình lập lại (1954), công việc kinh doanh của bà Thành bị chững lại, do hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Bà Thành bàn với chồng quay lại nghề giáo. Bà cạy cục xin cho ông một chân đứng bục giảng ở một trường tiểu học. Bà bảo, ông cứ vào làm ở đó, không cần tính đếm đến lương lậu, chỉ cần có biên chế nhà nước, rằng thời nay phải đi bằng hai chân, chân trong chân ngoài. Ông Vận tất nhiên là đồng ý cả hai tay, bởi máu nghề vẫn còn, và bởi như thế ông thoát được cảnh làm quản gia cho bà Thành.

Thấm thoát theo nghề giáo, ông Vận đã có ba chục năm thâm niên. Cũng nhờ có một nghề cụ thể, ông Vận dần độc lập, tự chủ hơn trong suy nghĩ, trong ứng xử, tách khỏi ràng buộc kinh tế của vợ. Để đến khi về hưu, ông đã mạnh bạo mà nói với vợ con rằng, từ nay ông không dính dáng tới công việc kinh doanh gì sất, ông sống đủ với đồng lương hưu.

Nhưng sự đời đâu có dễ an bài, an phận như ông tưởng. Bà Thành bảo: "Ông đừng tưởng với đồng lương hưu mà đủ cho ông sống như thế ở cái nhà này nhá. Ông đừng vội mơ thoát khỏi gấu váy con vợ này nhá". Rồi một lần khác, bỗng đi đâu về bà nổi cơn thịnh nộ: "...Hay ông đã có gấu váy nào rồi? Rõ ê chề chưa!".

Hôm bà mẹ vợ nổi cơn Hoạn Thư, thực lòng tôi cũng thấy gợn lên một điều gì hệ trọng có thật. Tôi đã mấy lần định hỏi thẳng ông bố vợ, nhưng lựa mãi chưa có dịp. Tôi tin, ông vốn sẵn lòng chia sẻ với tôi, chắc ông không giấu.
 *   *    *
Đúng 27 Tết, bố vợ tôi quyết định dọn nhà. Hôm ấy chỉ có vợ chồng tôi đến cùng ông dọn nhà. Đồ đạc cũng chẳng có gì nặng, khiêm tốn là đằng khác, trừ có bộ bàn ghế lim, cái xe đạp và cái tủ sách. Nhà ông dọn đến là một gian tập thể được mua thanh lý của một người bạn cũ, nay vào sống với con trong Nam, để lại nhờ ông trông nom. Trong khi tôi lau chùi lại cái bàn thờ để kịp cúng ông Táo, ông Thổ Công, thì vợ tôi đi mua đồ lễ. Gian nhà hoang lạnh vắng chủ, giờ có hơi người và mùi hương trầm, bỗng ấm cúng hẳn lên. Tôi nhận ra ông bố vợ vui ra mặt, cứ như vừa trút bỏ được gánh gì nặng lắm.

Cơm nước xong xuôi, đợi cho vợ về trước, tôi cố tình nán lại để hỏi cho ra nhẽ sự tình bà mẹ vợ hôm trước thịnh nộ. Trong lúc tôi tìm chỗ đặt cây hoa trạng nguyên, thì ông Vận loay hoay tìm chỗ để cái xe đạp. Ông lấy hai đoạn dây, một cột vào yên xe, đoạn dây kia cột vào ghi-đông, rồi treo lên. Đây là cách bảo quản xe của ông mà tôi đã chứng kiến từ ngày ở nhà cũ, mỗi khi đi đâu về. Treo xong cái xe, ông đi pha ấm trà, rồi kéo cái bàn con đến trước cây trạng nguyên và mời con rể lại thưởng trà. Nghĩ đây là lúc lòng ông đang thư thái, nên tôi quyết định đưa câu hỏi ra với ông. Không trả lời vào câu hỏi, ông quay lại hỏi tôi: “Chiều nay anh có bận không?". Tôi bảo không, “con sẽ ở đây ăn bữa cơm chiều nữa". Ông vui, hứng khởi hẳn lên:
- Có thế chứ. Tôi sẽ kể anh nghe xuất xứ cây hoa trạng nguyên này. Nghe xong anh hiểu tôi thế nào thì hiểu.
*   *   *
Câu chuyện được bắt đầu từ những năm chiến tranh, người dân thành phố đi sơ tán. Hồi này bà Thành và hai con nhỏ sơ tán theo khu phố, còn ông Vận sơ tán theo trường học, ở xa nhau đến chục cây số. Một lần ông Vận đạp xe về thành phố cho đỡ nhớ quê. Vào đến đầu ô rồi mà phố vẫn vắng tanh vắng ngắt . Bỗng ông thấy một cô gái ngồi dựa vào gốc cây ôm bụng đau quằn quại. Ông vội quẳng xe chạy lại. Thì ra cô đang trong cơn đau trở dạ đẻ. Không kịp hỏi han gì, ông vội xốc người phụ nữ lên ngồi sau xe, đạp thẳng đến bệnh viện. Cũng may là Bệnh viện thành phố hồi đó có một cơ sở xé nhỏ, sơ tán cách đấy độ năm cây số. Nhưng thật đau xót, người ta chỉ cứu được người mẹ, còn đứa con đã bị chết ngạt. Chị có tên là Nhu, nhân viên nhà ga đường sắt. Anh giáo Vận và cô Nhu quen biết nhau từ buổi đó. Sau đó một tháng, nỗi đau bồi tiếp, cô Nhu nhận giấy báo tử của chồng "Hy sinh tại mặt trận phía Nam". Bằng lòng thương trắc ẩn, anh Vận thấy không thể bỏ mặc cô Nhu trong lúc này. Rồi, một chuyến đò nên nghĩa, hai người khăng khít nhau tự lúc nào. Kết quả họ đã có với nhau một đứa con trai. Lúc đó cô Nhu bảo anh Vận:  “Anh đã có vợ, có con. Thời nay em cũng không thể theo anh về làm lẽ được. Anh đã cứu mạng em, là cái nghĩa em nợ suốt đời rồi. Em chỉ xin anh một đứa con. Anh hãy về với chị ấy. Mẹ con em sẽ rau cháo nuôi nhau. Thế cũng là mãn nguyện lắm rồi ".

Sau khi sinh con, cơ quan cho cô mượn mảnh đất gần ga làm nhà. Ngôi nhà tranh nhỏ trở thành địa chỉ anh Vận đi về mỗi chiều thứ bảy. Thay vì đáng ra anh phải đạp xe mười cây số về nơi người vợ và hai đứa con sơ tán.

Tôi nghĩ bụng, hèn nào cái xe đạp với bao kỷ niệm chẳng gắn bó ông như thế. Nhưng còn cái câu “huyền thoại xe đạp ơi” mà có lần ông nhắc tới, thì tôi vẫn muốn hỏi ông cho cặn kẽ.

- Đúng vậy, cái xe đạp cũ kỹ này với tôi là cả một huyền thoại. Mà nó cũng có một kỷ niệm đáng nhớ đấy. Ấy là hôm máy bay Mỹ đánh bom trúng ga, nơi cô Nhu làm. Nghe tin tôi vội cho học sinh nghỉ học sớm, đạp xe tới. Mặc máy bay còn đang gầm rú trên đầu, tôi đạp xe không còn biết hiểm nguy là gì, chỉ lo cho tính mạng hai mẹ con. Đoạn đường cách ga hơn một cây số, bom bi, bom từ trường nổ chậm còn rải đầy. Nhìn tấm biển dòng chữ viết vội "Có bom nổ chậm. Cấm người qua", mà lòng tôi như lửa đốt. Nhưng trong cái khó, ló cái khôn. Tôi tính mình vác xe đạp chạy qua cánh đồng thì rất dễ dính bom từ trường nhưng đi dọc theo đường tầu thì an toàn. Bởi nếu có bom, với những thanh ray sắt kia, nó đã nổ rồi, còn chờ gì tôi vác xe qua. Tính như thế, và tôi đã vượt qua bãi bom an toàn. Dẫu sau đó có bị các đồng chí dân quân giữ lại, khiển trách phiền hà tí chút. Quan trọng là tôi đã đến được với hai mẹ con cô Nhu, biết được cả hai đều an toàn, tuy có cái nhà bị bay mái. Sau lần cảm tử vác xe đạp ấy, tôi bị anh em trong cơ quan đùa là "Huyền thoại xe đạp ơi". Và tôi cũng thấy thích thú với câu đó. Tôi chợt nhận ra, giấu sau vẻ khiêm nhường thái quá, có khi mặc cảm, thu mình trước cuộc đời, ông bố vợ tôi cũng có những phút "ga-lăng", sống thực cho mình. Hay nói dân dã, tầm ngầm mà đấm chết voi. Chỉ có điều, qua cung cách kể chuyện của ông, tôi thấy cái thiên tình sử kia, sao mà đẹp, mà lãng mạn. Có lẽ đây mới chính là tình yêu đích thực ông tìm thấy.

Đợi cho ông chiêu nước vào ấm trà thứ hai, tôi lựa hỏi ông về đoạn sau câu chuyện, tức về mẹ con cô Nhu. Ông nhìn vào cây hoa trạng nguyên đang rung trong làn mưa xuân, mãi một lúc sau mới tiếp kể:
- Sông có khúc, người có lúc. Tôi tin Trời Phật có mắt cả đấy. Cực khổ mấy rồi cũng có ngày thái lai. Thằng Hải, con của chúng tôi, khai sinh lấy họ Nguyễn của tôi, còn tên và đệm lấy kỷ niệm tên cung đường sắt Hà Hải, nơi chúng tôi gặp nhau. Hải học hành giỏi giang, đúng với sở nguyện mẹ nó. Đã có lần cô Nhu bảo với tôi thế này: "Chồng em có giấy gọi đại học chỉ trước ngày nhập ngũ mấy ngày. Hôm lên đường anh ấy bảo em, anh để lại cái giấy gọi đại học này cho con chúng mình. Vì thế em phải thực hiện bằng được tâm ước này của anh ấy". Tất nhiên là tôi ủng hộ Nhu trong việc này. Tôi kiếm cây trạng nguyên về trồng trước sân nhà Nhu như để nhắc nhở điều ước nguyện. Cây hoa trạng nguyên này chính là nhánh của cây trạng nguyên đó.

Hải học giỏi, xong đại học lại được một suất học bổng du học nước ngoài. Tốt nghiệp, em lại đỗ bằng ưu, nên được họ mời ở lại giảng dạy. Tôi phải nói thêm, trong suốt những năm học ở nước ngoài, em còn tham gia lao động kiếm tiền gửi về giúp đỡ mẹ. Thế đấy. Anh có mừng cho chúng tôi không. Bà Nhu bây giờ đã ở khúc thái lai, bõ công mấy chục năm ở vậy nuôi con. Tôi cũng mới hay tin, Tết này em sẽ về thăm nhà.
*   *   *
Chiều 30 Tết, tôi nhận được điện thoại của ông bố vợ "Giao thừa mời anh đến xông nhà và đón Tết với chúng tôi. Năm mới đừng để dông đấy". Sao lại là "chúng tôi"? Quả có ẩn số ở đây. Thế này thì có bão chết cò tôi cũng phải đến.

Còn nửa tiếng nữa mới đến giao thừa. Tôi nhẩm tính đoạn đường và thời gian phi xe máy đến nhà ông, để sao đúng bước chân vào cửa là không giờ. Vợ tôi đã cẩn thận mua cây mía tím trường gióng để tôi mang đến chúc bố vợ. Tôi buộc cây mía dọc theo xe, nhưng lóng ngóng mãi không buộc được, cuối cùng quyết định đi xe đạp. Mà phải, thế càng tỏ ra là "đồng minh xe đạp" của bố vợ chứ sao.

Đường phố lúc này đã khá đông người đổ đi hái lộc, xông nhà. Tôi hòa vào dòng người vui xuân, lòng có gì rạo rực, phấn chấn. Đến chỗ rẽ vào nhà bố vợ, chợt một chiếc ta-xi lướt nhẹ qua trước mặt tôi, rồi đỗ lại. Người thanh niên trẻ bước xuống, tiếp sau là cô gái người nước ngoài. Người thanh niên cầm tờ giấy chỉ đường nhìn quanh, thoáng chút bỡ ngỡ. Linh tính cho tôi biết, họ rẽ cùng đường với tôi. Quả nhiên, anh thanh niên bỗng đi thẳng lại phía tôi, chìa tờ giấy ghi địa chỉ ra. Anh hỏi thăm vào nhà một ông già có tên là Vận, ở độc thân, tại số nhà... Đích thị là bố vợ tôi rồi. Tôi bảo tôi cũng đang đến nhà ông ấy để xông nhà đây. Và bảo, ngày đầu năm hỏi đường mà gặp bạn cùng đường thế này là may lắm đấy. Cả hai người cùng cười.

Tôi bỗng nhận ra trong trang phục, trong bộ dạng đi đứng, cách nói năng, họ không phải người thành phố này, mà là khách vãng lai, vừa từ nơi xa đến. Thôi đúng rồi, kìa nhìn dáng đi của anh thanh niên, cái miệng cười... sao mà giống ông Vận đến thế! Tôi đánh bạo hỏi anh thanh niên:
- Xin lỗi, anh chị đến nhà ông Vận là như thế nào?
- Tôi là con trai ông ấy. Đây là vợ sắp cưới của tôi. Chúng tôi sống và làm việc ở nước ngoài, Tết này về thăm nhà.

Anh nói với giọng rất tự tin. Nhưng khi tôi hơi lùi ra để nhìn anh từ đầu đến chân, thì anh bỗng hơi lúng túng. Hèn nào, đây chính là điều giải mã cho cái ẩn số trên kia của tôi.

Bỗng trên trời những chùm pháo hoa nở rực. "Giao thừa rồi!" - Cô gái bỗng thốt lên một câu tiếng Việt. Từ trong nhà, tôi đã trông thấy ông bố vợ đang đứng ở cửa chờ đón khách. Không ngờ, Tết này gia đình tôi (vâng, có thể gọi như thế lắm chứ!), đón Tết có thêm hương sắc mới. Đúng là cái Tết thời "hội nhập". Vợ chồng tôi đương nhiên như thế lại kết nạp thêm người anh em cùng cha khác mẹ, như thế gia đình sẽ lại càng đông đúc, như mâm thêm bát mà.

Cô gái, hình như thấy cây mía cột vào cái xe đạp có gì không ổn, cô bảo để cô cầm. Nhìn cô gái Tây, một cô dâu Việt tương lai thích thú vác cây mía mang lộc xuân đi vào, tôi bỗng bật cười thú vị.

Hải Dương, Tết 2010
Truyện ngắn của NGUYỄN SIÊU VIỆT

Các tin khác