Thứ tư, 23/05/2012 10:19AM
Các ấn phẩm của Báo Hải Dương: Hải Dương hằng ngày phát hành thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7. Hải Dương cuối tuần phát hành chủ nhật. Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày.
Xã hội
Thăng Long với xứ Đông
  26/10/2010 22:08:49 PM
Khi nói đến Thăng Long ngàn năm văn hiến thì cũng phải hiểu các địa phương theo lịch đại ngàn năm tương ứng. Xứ Đông ở đây là nói đến vùng đất Hải Dương dưới thời đại phong kiến, tức Hồng lộ, Nam Sách lộ thời Lý - Trần, thừa tuyên, rồi xứ, trấn Hải Dương thời hậu Lê, tỉnh Hải Dương thời Nguyễn. Khi đó không gian Hải Dương gấp đôi hiện nay. Ảnh hưởng của Thăng Long với xứ Đông trên nhiều phương diện, để lại dấu ấn sâu sắc trong lịch sử.

Thăng Long với sự nghiệp giáo dục của xứ Đông.  Đây là nền tảng của sự phát triển bền vững. Tam tự kinh viết: Nhân vô học bất tri lý. Nguyễn Trãi nói: Nên thợ nên thầy vì có học. Học ở đây nên hiểu theo nghĩa rộng. Điều này dễ nhận biết. Từ khi định đô ở Thăng Long, từ thời Lý đến thời Lê, sĩ tử xứ Đông có trên 600 người đỗ tiến sĩ, giữ nhiều trọng trách của triều đình đương thời. Đến triều Nguyễn, kinh đô và trường thi chuyển vào Huế, cả tỉnh chưa được 20 người đỗ tiến sĩ Nho học. Làng Mộ Trạch có truyền thống hiếu học, triều Trần đến triều Lê có tới 39 tiến sĩ, nhưng ở triều Nguyễn không có một vị nào đỗ đại khoa. Tình hình đó trước hết do trường thi quá xa, hơn nữa, triều Nguyễn chẳng mấy ưu ái sĩ phu Bắc Hà từng là trung thần của triều Lê - Trịnh. Đến khi thực dân Pháp lấy Hà Nội làm Thủ đô của Đông Dương thuộc Pháp, lại sớm tạo nên một thế hệ trí thức mới ra đời, tiêu biểu là các gia đình họ Vũ, họ Phạm, họ Nguyễn ở Hải Dương, như gia đình Luật sư Vũ Đình Hòe, Học giả Nguyễn Văn Ngọc, Phạm Quỳnh, Thông phán Nguyễn Tường Nhu, Nghệ sĩ Võ An Ninh, Trùm chèo Nguyễn Văn Thịnh...

Về phương diện kinh tế:  Kinh đô phát triển đã tạo thị trường cho các ngành nghề thủ công phát triển, nơi tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp. Chúng ta biết rằng, dù có tài năng đến mấy, hàng hóa có tốt đẹp đến đâu nếu không có nơi tiêu thụ thì cũng không thể phát huy, sớm muộn sẽ mai một. Nhiều nghề thủ công của xứ Đông phát triển được một phần quan trọng nhờ thị trường kinh đô, như nghề nhuộm của Đan Loan, mỹ nghệ vàng bạc của Châu Khê, thuộc da đóng giày của Trúc Lâm, khắc ván in của Liễu Tràng, khắc đá ở Kính Chủ... Đặc biệt là gốm Chu Đậu có một nhiệm vụ quan trọng là làm đồ ngự dụng. Chính những nhu cầu cao cấp đó đã tạo cho các ngành nghề xứ Đông phải vươn tới những đỉnh cao. Tất nhiên có nhiều nghề không hề phụ thuộc Thăng Long. Ví dụ nghề làm cày bừa chẳng hạn. Nếp hoa vàng, gạo tám thơm, cau Đông, rươi mùa đều là những đặc sản nhờ thị trường Thăng Long mà phát đạt.

Về kiến trúc và quy hoạch làng xã, gia thất
có ảnh hưởng Thăng Long tích cực. Thử khảo sát một số làng có nhiều quan lại cao cấp làm việc nhiều năm hay nhiều đời ở kinh đô, hay những làng nghề có phố phường ở Thăng Long sẽ thấy họ chịu ảnh hưởng của kinh đô như thế nào qua bộ mặt của làng xã, hay trong từng gia đình như ở Tam Lâm, Châu Khê... Nhiều công trình công cộng trong thiết chế văn hóa cũ đều do thợ triều đình kiến tạo, ngày nay có thể thấy qua bia ký như: Đền Kiếp Bạc, chùa Côn Sơn, Thanh Mai, Động Ngọ, Minh Khánh, đình Nhân Lý, lăng Đinh Văn Tả, lăng Vũ Hồng Lượng...

Những nhân vật có ảnh hưởng đến xứ Đông. Những nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến xứ Đông mà chúng tôi dẫn ra dưới đây không chỉ là người gốc Thăng Long mà người của tứ xứ, từng là công dân của Kinh đô, sau đó trở lại các xứ, góp phần vào sự nghiệp văn hóa ở những nơi này.

Trạng nguyên Đỗ Thế Diên, người hương Cổ Liêu, thuộc huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tuy là một quan lớn trong triều Lý, nhưng cuối đời đã về quê xây chùa, tạc tượng, lập bia để lại những di tích cổ điển.Trần Hưng Đạo, sinh ra ở Thiên Trường, trưởng thành ở Thăng Long, là quan triều, nhưng từ khi còn tráng niên đã sống và làm việc ở Vạn Kiếp. Sự nghiệp lớn của người hình thành từ đây. Người Hải Dương được hưởng lộc lớn của người cũng chính là di tích này.

Thầy Chu Văn An quê gốc ở Gia Lâm, ngụ cư ở thôn Văn, xã Thanh Liệt (Hà Nội), nhưng cuối đời lại về Phượng Hoàng (Chí Linh). Những tác phẩm thơ văn hay của thày lại được viết từ nơi lâm tuyền yên tĩnh này.

Nguyễn Trãi cố hương ở Chi Ngại (Chí Linh), sinh ở Thăng Long, 5 tuổi đã về sống với ông ngoại ở Thanh Hư động, 56 tuổi về ở hẳn Côn Sơn, những bài thơ hay và sâu sắc nhất của ông được viết chính tại nơi này. Trần Hưng Đạo, Chu Văn An,  Nguyễn Trãi, ba ngôi sao sáng trên bầu trời phong kiến Việt Nam, đại diện cho ba phương diện: Quân sự, giáo dục, văn hoá đều về Chí Linh để di dưỡng tinh thần và làm tiếp sự nghiệp của mình những năm tháng cuối đời.

Phiêu kỵ tướng quân Trần Khánh Dư, Thượng tể Trần Quốc Chẩn, Trạng nguyên Nhập nội hành khiển Mạc Đĩnh Chi, Đức lão Lễ sư Nguyễn Thị Duệ... dù từng là quan lớn của triều đình, nhưng người trước, người sau đều về đất Chí Linh sống những năm tháng cuối đời, để lại nhiều sự tích ly kỳ. Đó là cơ sở lịch sử để hình thành lên tám di tích đặc biệt, mà người xưa gọi là "Chí Linh bát cổ".

Nguyễn Thị Duệ dù làm quan triều, trăm công ngàn việc những vẫn không quên việc giáo dục sĩ tử của quê hương. Bà là người đầu tiên trong lịch sử Việt Nam thực hiện giáo dục từ xa, phương pháp này ngày nay đang được thừa kế và phát huy.

Về tôn giáo: Phật giáo thời Lý - Trần như một quốc giáo, nhưng điển hình trong Phật giáo Việt Nam phải là Thiền phái Trúc Lâm. Ba vị Phật hoàng của Thiền phái này: Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang đều lấy Hải Dương làm nơi lập tu viện và hành đạo cho đến cuối đời, để lại cho Hải Dương một hệ thống di tích tôn giáo hoành tráng còn được phát huy đến hôm nay. Trong đó, Trạng nguyên, đệ tam tổ Huyền Quang Lý Đạo Tái, nguyên quán Kinh Bắc, trải qua 30 năm làm quan với nhà Trần, vẫn dành 30 năm cuối đời tu hành trên đất Chí Linh, Đông Triều cho đến khi về đất Phật.  

Tam nguyên Nguyễn Bình Khiêm, một danh sĩ lỗi lạc ở thế kỷ XVI, cũng chỉ làm quan với nhà Mạc ở Thăng Long 7 năm, rồi về Trung Am, xứ Đông sống với dân gian, viết nên những vần thơ triết lý bất hủ.

Nhiều vua quan, trí thức, học giả của Thăng Long, tuy không từng sống ở xứ Đông nhưng đã góp phần tạo nên diện mạo văn hoá ở đây. Trần Nhân Tông đã từng ngự chế văn bia tại Kiếp Bạc khi Trần Hưng Đạo qua đời. Trần Nghệ Tông và Duệ Tông ngự chế văn bia Thanh Hư động ở Côn Sơn. Lê Thánh Tông ngự đề thơ trên nóc động Kính Chủ và chùa Quang Khánh (Kim Thành). Thám hoa Nguyễn Quý Đức soạn văn bia Bổi Lạng ở Tứ Kỳ, Vũ Thạnh soạn văn bia ở Đặng Xá (Nam Sách)... Hàng trăm hoàng hậu, công chúa, quận chúa đã góp hàng nghìn mẫu ruộng, hàng trăm lạng vàng, hàng vạn quan tiền tạo dựng các công trình văn hoá ở Hải Dương. Không chỉ thời phong kiến mà hiện nay, người Thăng Long- Hà Nội đã ủng hộ Hải Dương về trí tuệ, tài chính và tài sản không nhỏ trong việc xây dựng xã hội hiện đại.

TĂNG BÁ HOÀNH- Chủ tịch Hội Sử học Hải Dương


 
Thăm dò ý kiến
Theo bạn, tăng viện phí sẽ :
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Chia sẻ gánh nặng chi phí với Nhà nước
Hạn chế tiêu cực trong khám, chữa bệnh
Khó khăn cho bệnh nhân nghèo
Dư luận không đồng tình
Ý kiến khác
 
 
 
Dành cho quảng cáo