Thứ tư, 23/05/2012 10:22AM
Các ấn phẩm của Báo Hải Dương: Hải Dương hằng ngày phát hành thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7. Hải Dương cuối tuần phát hành chủ nhật. Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày.
Xã hội
Bóng dáng kinh đô xưa
  26/10/2010 22:58:48 PM

Rồng đá ở nền nhà cũ Điện Kính Thiên (Hà Nội)

Dấu vết thời hoang dã

Đầu thế kỷ XI, khi nhà Lý bắt đầu xây dựng kinh đô Thăng Long thì đất đai nơi đây vẫn còn nhiều vùng hoang dại. Tên các địa danh cũng như trên thực địa còn thấy nhan nhản những dấu vết của rừng rậm, đầm lầy: Du Lâm (rừng Dâu Da), Mai Lâm (rừng Mơ), Gia Lâm (rừng Đa), Tráng Liệt (rừng Sặt), Đình Bảng (rừng Báng)... Hiện nay rừng Sặt vẫn còn lác đác những cây lim, cây sến, cây táu là loại gỗ "tứ thiết" rất quý ở nước ta.

Cách đây vài trăm năm, đường Cầu Giấy còn đầy lau sậy, tục gọi Rặng Lau. Cách đây gần trăm năm, rừng Xuân Quan, Gia Lâm cũng còn um tùm lim, sến...

Theo truyền thuyết Trâu vàng Hồ Tây thì vùng này xưa là rừng lim bị trâu vàng quẫy phá lồng lộn mà thành hồ. Ngày nay, dân đánh cá Hồ Tây thi thoảng lặn xuống đáy hồ còn gặp những cây lim to chìm sâu trong bùn. Bia đình Tân Khai ở phố Hàng Vải còn nhắc đến thần Thiết Lâm (rừng Lim) theo truyền thuyết là vị thần ở Hồ Tây.

Vài trăm năm trước đây, vùng Voi Phục cũng còn um tùm những rừng nứa, trám, si quanh hồ Linh Lang (nay là hồ Thủ Lệ). Cũng theo sử cũ, cuối thế kỷ XI, còn có trăn hoa ở mạn rừng Voi Phục. Cho đến thế kỷ XIV đời Trần vẫn còn có con hổ đen xuất hiện trong kinh thành và nhiều cá sấu vẫy vùng trên khúc sông Cái ở Thăng Long. Theo lệnh vua, nhà thơ Hàn Thuyên đã soạn bài văn tế bằng chữ Nôm để đuổi cá sấu, trừ hại cho dân.

Thời nhà Lý định đô, sông hồ ngòi lạch còn ngang dọc khắp kinh thành: Hồ Dâm Đàm (Hồ Tây), hồ Chu Tước, Thái Hồ, hồ Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm ngày nay), hồ Thái Cực (quãng phố Hàng Đào ngày nay), hồ Cổ Ngựa... liên thông với nhau bằng các ngòi, lạch.

Vùng đất huyện Thanh Trì trước có tên là Long Đàm. "Trì" là ao, "Đàm" là đầm, chứng tỏ nơi đây có rất nhiều đầm, ao, hồ... Đầm Vạn Xoan có từ thời Tiền Lý rồi đầm Sét, đầm Mực... Phía Đông, sông Cái liền kề với kinh thành, đồng thời thông nước với Hồ Tây, hồ Lục Thủy và thông nước với cả sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu là những con sông bao bọc suốt phía Bắc, phía Tây và phía Nam kinh thành.


Sông Cái xưa có tên chữ là "Nhĩ Hà". "Nhĩ" nghĩa là tai. Có tên này vì sông lượn vòng quanh như cái vành tai, dân gian lúc đầu gọi là sông Nhĩ, về sau gọi chệch thành sông Nhị.

Trước khi vua Lý Thái Tổ cho xây dựng kinh thành Thăng Long, khoảng thế kỷ VII trở đi, bọn đô hộ phương Bắc bắt đầu di chuyển trị sở từ bên phía Bắc sông Nhĩ Hà (thuộc đất Bắc Ninh, Bắc Giang ngày nay) sang đây và tiến hành xây dựng thành lũy quân sự. Tuy chỉ là thành lũy quân sự nhưng trải qua mấy trăm năm tên thành lũy đã thành tên đất. Dân quen miệng gọi vùng đất này là La Thành hoặc Đại La Thành.

Vóc dáng kinh đô thời Lý

Kinh đô Thăng Long thời Lý có hai phần, đó là Hoàng Thành và Kinh Thành.
Hoàng Thành nằm trong lòng Kinh Thành, là khu vực của triều đình làm việc và nơi vua ở.

Trong Hoàng Thành lại có một khu vực gọi là Cấm Thành có tường xây kiên cố, lính gác nghiêm mật, là nơi nhà vua cùng hoàng hậu và các cung tần ở. Bên ngoài Hoàng Thành còn đắp thêm một vòng tường gọi là Long Thành, hoặc Phượng Thành. Long là Rồng. Rồng và Phượng là hai con vật trong "Tứ linh" (long, ly, quy, phượng) - bốn con vật thiêng.Quy mô kinh thành Thăng Long thời Lý to nhỏ ra sao và vị trí đích thực của nó ở chỗ nào, đó là điều mà giới sử học, khảo cổ học còn phải tiếp tục nghiên cứu. Tuy nhiên, căn cứ vào các mẫu truyền thuyết dân gian, vào các di vật khảo cổ, các địa danh và di tích cũ, có thể đoán định rằng Hoàng Thành Thăng Long thời nhà Lý giáp Hồ Tây ở phía bắc, giáp sông Tô Lịch ở phía tây, giáp đường Ô Cầu Giấy ở phía nam và giáp thành Hà Nội thời Nguyễn ở phía đông (tức Quảng trường Ba Đình và đường Hùng Vương ngày nay). Như vậy, thành Thăng Long thời Lý ở mé tây thành Hà Nội thời Nguyễn sau này.

Nếu căn cứ vào các phương vị đó mà kẻ những đường thẳng nối liền nhau trên bản đồ thì thấy khu vực Hoàng Thành hình chữ nhật có diện tích khoảng gấp đôi thành Hà Nội thời Nguyễn.

Kinh đô Thăng Long thời Lý đã được xây dựng như một công trình kiến trúc hoành tráng nhất trong các triều đại.

Đặc biệt, kiến trúc khu Hoàng Thành đã được tiến hành theo một quy hoạch lớn, vừa đa dạng vừa tráng lệ chưa từng có. Nơi đây được xây dựng hàng loạt cung điện lộng lẫy. Chỗ vua Lý Thái Tổ làm việc có các điện Kiều Nguyên, Tập Hiền, Giảng Vũ. Chỗ vua nghỉ ngơi có điện Long An, điện Long Thụy. Nơi phi tần ở có cung Thúy Hoa, cung Long Thụy...

Các cung điện thời Lý nói chung đều được xây dựng rất đẹp đẽ, "chạm trổ, trang sức khéo léo" (trích Việt sử lược đời Trần). Ngoài cung điện, khu Hoàng Thành còn xây dựng nhiều lầu các, đài tạ vàng son lộng lẫy. Đài Chúng Tiên dựng năm 1161, tầng trên lợp ngói bằng vàng, tầng dưới lợp ngói bằng bạc (trích Việt sử lược). Hồ ao, vườn ngự cũng được đào đắp khá nhiều. Hồ Kim Minh Vạn Tuế (1049) có đắp núi đá cao ba ngọn trên mặt hồ và có cầu Vũ Phượng từ bờ đi vào. Hồ Ứng Minh, hồ Thụy Thanh (1051), hồ Phương Liên (1098)... đều là những hồ đẹp, trên bờ có dựng nhiều lầu các, đình tạ. Trong Hoàng Thành còn lập nhiều ngự uyển trồng các loại hoa thơm cỏ lạ và nuôi các thứ muông thú quý hiếm... (Trích sách Việt sử thông giám cương mục).

Cùng với việc đào hồ, lập vườn, khu vực Hoàng Thành còn được kiến tạo nhiều núi đất, trong đó có những ngọn đã trở thành danh thắng như núi Nùng (đắp thêm trên một gò đất cổ), núi Tam Sơn, núi Ngũ Nhạc... Núi Nùng là nơi trên đó xây điện Kính Thiên, cũng là quả núi đã trở thành biểu tượng của non nước Kinh Thành

... "Núi Nùng, sông Nhị chốn này làm ghi..."


(Trích Chính khí ca)

Núi Nùng ở gần cổng thành Cửa Bắc, hiện tại vẫn còn nền điện Kính Thiên và 9 bậc lên có hai con rồng đá chầu hai bên. Lâu nay không ít người lầm tưởng quả núi đất trong vườn Bách Thảo là núi Nùng.

Nhà Lý là một triều đại sùng Phật, vì thế chùa và tháp được xây dựng khá nhiều ở Thăng Long - cũng như ở trấn Kinh Bắc nơi đất tổ của Phật giáo Việt Nam, nơi phát tích của nhà Lý.

Riêng ở khu Hoàng Thành cũng xây dựng nhiều điền miếu, chùa tháp để dành riêng cho nhà vua. Ngay trong năm đầu định đô, Lý Thái Tổ đã cho dựng các ngôi chùa lớn: Hưng Thiên, Vạn Tuế. Năm 1114 xây chùa Thiên Phật rộng lớn đủ bày 1.000 pho tượng. Tiếp sau đó là hàng loạt đền chùa nổi tiếng được xây dựng như: chùa Chân Giáo, đền Quán Thánh...

Ngoài Hoàng Thành có một bức tường gạch bao quanh và có 4 cửa thông ra ngoài khu kinh thành: Bắc là cửa Diệu Đế, Nam là cửa Đại Hưng, Đông là cửa Tường Phù, Tây là cửa Quảng Phúc.

Ra khỏi Hoàng Thành là khu vực kinh thành có quy mô khá rộng. Bên ngoài cùng đắp một dải tường thành bằng đất bao bọc xung quanh, gọi là Đại La Thành hoặc La Thành. Ở mé đông tường thành cũng đồng thời là bờ sông Cái.

Như vậy, khu vực Kinh Thành Thăng Long có sông Cái, sông Nhuệ (tức sông Từ Liêm) bao bọc và sông Tô chảy qua. Hồ lớn thì có: Dâm Đàm (Hồ Tây), Lục Thủy (hồ Hoàn Kiếm), Thái Hồ, hồ Linh Lang (Voi Phục)... Điều đặc biệt là các sông hồ đều thông với nhau bởi các ngòi lạch, nên có thể dùng thuyền đi lại khắp kinh thành.

Thuở ấy đất Thăng Long chưa có đê điều nên kinh đô nằm lọt giữa bốn bề mênh mông sông nước, việc đi lại rất khó khăn, bất tiện, nhất là vào mùa mưa lũ hằng năm. Tình trạng này kéo dài gần 100 năm sau khi nhà Lý định đô. Đến năm 1108 đời vua Lý Nhân Tông mới cho đắp đê Cơ Xá chạy dọc theo bờ sông Cái từ Nghi Tàm, Yên Phụ xuống đến Lương Yên, Thanh Trì. Đê Cơ Xá chỉ ngăn đỡ phần nào chứ chưa tránh khỏi nạn lụt. Do vậy, việc đi lại ở Thăng Long chủ yếu vẫn phải dựa vào thuyền bè. Có lẽ vì vậy mà dân Thăng Long nói riêng và Đại Việt nói chung tài bơi lội và thủy chiến.

Thời vua Lý Thái Tông (1028-1054) những người dân nghèo từ làng Lệ Mật (thuộc huyện Gia Lâm ngày nay) vượt sông Nhị sang khai hoang ở phía tây kinh thành Thăng Long đã biến vùng rừng rậm đầm lầy thành khu "Thập tam trại" (Mười ba trại) là khu vực nông nghiệp quan trọng gồm các trại Ngọc Hà, Đại Yên, Cống Vị, Thủ Lệ... (thuộc quận Ba Đình ngày nay) để trồng lúa, rau, cây thuốc và hoa.

Sau đó, nhân dân ở các miền quê lân cận cũng lần lượt kéo nhau đến đây khai hoang, lập trại hoặc lập các phường thợ thủ công làm cho kinh đô ngày càng thêm đông vui và trù phú.

Sử cũ cho biết thời Lý ở Kinh Thành có 61 phường dân cư, có nhiều thợ thủ công lành nghề đặc biệt là thợ xây dựng đạt trình độ tinh xảo. Các phường vừa là nơi buôn bán, vừa là nơi sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp.

Ngoài bốn cửa Hoàng Thành có các chợ lớn theo cấu trúc trong "Thành", ngoài "Thị" (chợ). Sử sách nói đến tên chợ Đông, chợ Tây và chợ Nam. Chợ Đông là chợ lớn nhất thuộc phường Giang Khẩu nằm ở cửa sông Tô Lịch thông ra sông Cái (quãng giữa phố Hàng Buồm và phố Hàng Than ngày nay).

Đầu năm 1028, vua Lý Thái Tông cho lập miếu thần Đồng Cổ (Trống Đồng). Hằng năm đến ngày 4 tháng 4 âm lịch, tổ chức hội cho các quan thề trước thần rằng: "Làm con chẳng hiếu, làm tôi chẳng trung, thần minh chu diệt".

Năm 1049, vua Lý Thái Tông cho dựng chùa Một Cột tại vườn Tây Cấm (khu vườn ở mé tây Cấm Thành Thăng Long) gọi tên chữ là chùa Diên Hựu.

Năm 1057, vua Lý Thái Tông cho dựng tại chùa Sùng Khánh một ngọn tháp nổi tiếng về chiều cao, có tên là tháp Báo Thiên. Tháp này cùng quả chuông Quy Điền đã được xếp vào hàng bốn công trình của nước Nam hồi ấy.

Năm 1070, Lý Thánh Tông cho xây Văn Miếu. Năm 1078, đời Lý Nhân Tông cho dựng nhà Quốc Tử Giám ở sau Văn Miếu là Trường Đại học đầu tiên của nước Đại Việt thuở ấy.

Trong hơn 200 năm dưới vương triều Lý, tại Kinh đô Thăng Long đã xây dựng được nhiều công trình to đẹp, xứng đáng là một kinh đô mở nền của kỷ nguyên văn hiến Đại Việt.

Nỗi đau chung của mọi thế hệ


Cuối thời Lý (đầu thế kỷ XIII), nội chiến xảy ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến rồi xung đột nổ ra tại đế đô làm cho cung điện trong khu Hoàng Thành bị thiêu hủy gần hết. Đến nỗi, năm 1214 cung thất nhiều nơi bị đốt, vua và hoàng hậu phải trú ở nhà tranh gần cầu Thái Hòa. Đến năm 1216, "thảo điện" (tức cung điện bằng tranh tre nứa lá) phải dựng ở tây Phù Liệt (nay là làng Sét thuộc quận Hoàng Mai).

Từ đầu năm 1225, nhà Trần lên ngôi vua đã bắt tay sửa sang và xây dựng mới khu vực Hoàng Thành. Năm 1230, xây dựng nơi thiết triều gồm một số cung điện lầu gác, khu Kinh Thành đời Trần thì không có gì khác so với đời Lý.

Cuối đời nhà Trần, Kinh Thành Thăng Long lại tiếp tục bị giặc giã cướp phá, thiêu đốt, đổ nát tan hoang.

Năm 1400, Hồ Quý Ly lên ngôi, ông ta không những không sửa chữa kinh thành mà còn phá nốt những cung điện còn sót lại ở Thăng Long, lấy nguyên vật liệu đem vào Thanh Hóa xây dựng kinh đô mới.

Sau đó 10 năm, giặc Minh xâm lược nước ta. Thăng Long bị chiếm đóng trong hai mươi năm liền. Lũ giặc Minh bòn rút nốt những gì còn lại trong Hoàng Thành rồi phá phách đến những công trình xây dựng bên ngoài Hoàng Thành. Chúng hủy hoại nhiều chùa, tháp, đền, miếu, lấy những cổ vật bằng đồng quý như đỉnh tháp Báo Thiên, chuông Quy Điền đem đúc vũ khí. Đến lúc này, hầu hết những công trình kiến trúc ở Thăng Long từ thế kỷ XI, XII đều bị phá trơ trụi.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi vua, đổi tên Thăng Long thành Đông Đô, đến cuối năm 1430 lại gọi là Đông Kinh.

Từ đó, trong suốt 400 năm các triều vua Lê kế tiếp đã xây dựng lại kinh đô Thăng Long ngày càng rộng lớn, đẹp đẽ và sầm uất với hàng trăm cung điện.

Nhưng tiếc thay, đến cuối thế kỷ XVIII cuộc tranh chấp quyền hành giữa vua Lê và chúa Trịnh đã dẫn tới cuộc tương tàn dữ dội trên đất Thăng Long. Ngày mồng 8 tháng Chạp năm Bính Ngọ (đầu năm 1787), Lê Chiêu Thống sai người phóng hỏa đốt hết phủ Chúa, đám cháy kéo dài hơn 10 ngày chưa tắt. Thế là lâu đài, cung điện xây dựng trong mấy trăm năm bỗng chốc hóa thành bãi đất cháy đen.

Dưới chính quyền Tây Sơn (1788-1802), Thăng Long có được sửa sang ít nhiều, song về căn bản kinh thành vẫn không có gì khác trước.

Năm 1802, triều đại Tây Sơn bị tiêu vong, cả nước thuộc quyền thống trị của triều Nguyễn. Kinh đô bị dời vào Phú Xuân (Huế). Từ đó, kinh đô Thăng Long xưa chỉ còn là trấn thành, sau đó là tỉnh thành.


Năm 1803, Vua Gia Long cho triệt phá Hoàng Thành cũ. Trên nền đất ấy xây một thành mới theo kiểu Vô-băng (một kiểu thành của Pháp thế kỷ XVIII). So với Hoàng Thành thời trước, thành mới nhỏ hẹp hơn rất nhiều, mỗi bề chỉ khoảng 1 ki-lô-mét. Năm 1812, dựng cột cờ hình 6 cạnh, cao 60 mét, xây bằng gạch gốm ở phía nam thành. Năm 1831, vua Minh Mệnh sáp nhập huyện Từ Liêm, phủ Ứng Hòa, phủ Lý Nhân, phủ Thường Tín vào Thăng Long và lập ra tỉnh Hà Nội. Năm 1848, vua Tự Đức sai phá dỡ cung điện trong thành, lấy các đồ chạm trổ mỹ thuật bằng gỗ, đá đem về Huế.

Đến đây coi như Hoàng Thành Thăng Long đã bị triều đình nhà Nguyễn "xóa sổ" sau hơn 8 thế kỷ xây dựng, trải bao thăng trầm.

TRƯỜNG GIANG (tổng hợp)

 
Thăm dò ý kiến
Theo bạn, tăng viện phí sẽ :
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Chia sẻ gánh nặng chi phí với Nhà nước
Hạn chế tiêu cực trong khám, chữa bệnh
Khó khăn cho bệnh nhân nghèo
Dư luận không đồng tình
Ý kiến khác
 
 
 
Dành cho quảng cáo