Thứ tư, 23/05/2012 10:36AM
Các ấn phẩm của Báo Hải Dương: Hải Dương hằng ngày phát hành thứ 2, 3, 4, 5, 6, 7. Hải Dương cuối tuần phát hành chủ nhật. Hải Dương hằng tháng phát hành từ 20-22 hằng tháng. Hải Dương Online cập nhật tin tức liên tục trong ngày.
Truyện - tản văn
Kỷ vật của người lính Điện Biên
  29/08/2010 21:03:24 PM

Ông nội tôi có một cái thùng sắt nho nhỏ nhưng vô cùng chắc chắn. Ông để các kỷ vật trong cuộc đời vào đó. Không loại côn trùng nào có thể chui vào nổi. Bố tôi bảo đấy là thùng đạn 12 ly 7. Loại súng có thể vừa bắn bộ binh vừa có thể bắn được cả máy bay. Tôi thuộc lớp 8X nên mùi khói lửa của cuộc chiến tranh vệ quốc đã tan từ lâu. Nếu có biết chẳng qua là nhìn, là đọc được trên phim ảnh, sách báo, hoặc lời kể của những người đi trước. Ngày tôi nhập ngũ ông nội tôi vui lắm. Không vui sao được khi tôi là thế hệ thứ ba trong gia đình tham gia quân đội. Bố mẹ tôi chừng không vừa lòng vì cho rằng uổng phí mất bốn năm theo học bậc đại học. Nhưng vì nể ông nội nên đành vui vẻ. Trước hôm nhập ngũ một ngày, ông nội tôi lôi cái thùng đạn có từ thời đánh Pháp ấy ra. Ông cẩn thận mở nắp. Trời ơi! Trong thùng chứa bao nhiêu là giấy khen, bằng khen, huân chương, huy chương. Ông nội cẩn thận bỏ những thứ đó ra giường. Cuối cùng ông nâng trên tay một cái túi vải không còn phân biệt nổi ban đầu nó là màu gì. Ông hỏi tôi: "Cháu có biết cái túi này tên gọi là gì, tác dụng của nó ra sao không?” Tôi thong thả dở cái túi vải ra ngắm nghía. Bố tôi gợi ý: "Túi này may bằng vải diềm bâu, được nhuộm bùn ao nhiều lần. Ban đầu nó cứng như mo cau. Trải qua thời gian năm tháng rất lâu nó mới mềm ra như hiện nay". Tôi mân mê cái túi trên tay. Đó là cái túi dài chừng gần hai mét, bề rộng chừng một tấc. Thân túi đã có vài chỗ bị rách được vá lại bằng những miếng vải màu khác, trông rất buồn cười. Tôi chú ý đến mấy chỗ có vết thâm đen, hình như là vết máu đã khô. Tôi đáp: “Thưa ông, cháu không biết tên gọi cũng như tác dụng của nó. Nhưng cháu đã được nhìn thấy trên phim ảnh. Cháu nhớ ngày thành lập đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, có chiến sĩ trong đội cũng có khoác một cái túi y hệt như thế này". Ông nội tôi cười khà khà: "Cháu không biết là phải. Thời bố cháu vào Nam đánh Mỹ, quân đội ta đã không dùng loại túi này rồi. Vật này tên gọi là "ruột tượng". Khi hành quân di chuyển thì đổ gạo vào, hai đầu buộc túm lấy nhau khoác chéo qua vai. Lúc cần có thể băng tạm vết thương. Cháu có hiểu không?".Tôi đáp: “Thưa ông ,cái túi này của ông à? Còn những vết như màu này là cái gì?". Ông nội tôi đón lấy cái túi. Nét mặt ông trầm ngâm. Kỷ niệm của những năm tháng xa xôi ùa về: "Vật này không phải là của ông. Mà là của một người đồng đội. Không. Phải cao hơn đồng đội. Của một người anh ruột mới đúng. Người đã dìu dắt ông trong thời gian đầu nhập ngũ. Đó là một câu chuyện dài”. Ông nội tôi bắt đầu kể.

Cuối năm 1950, một chàng trai làng Đáy bỏ trốn nhà, theo một đơn vị bộ đội hành quân qua làng. Người thanh niên ấy mang một cái tên bình dị: Điền. Trần Văn Điền. Điền tức là ruộng là đất. Đấy cũng là ước mơ ngàn đời của người nông dân Việt Nam nghèo khổ sống dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến. Họ mong muốn có lấy một mảnh đất của riêng mình. Dù là bé nhỏ. Tháng 9 năm 1945, nền dân chủ cộng hòa vừa chia cho họ được thửa ruộng. Nhưng chẳng bao lâu giặc Pháp lại xâm lược nước ta và cướp đi tất cả. Theo lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Cụ Hồ, mọi người dân Việt Nam lên đường tòng quân cứu nước. Năm ấy Điền còn bé. Cậu bị các đơn vị từ chối. Có anh bộ đội còn nói đùa: "Về bú tí mẹ thêm vài năm nữa. Cậu em bé nhỏ của tôi ơi". Mãi mấy năm sau Điền mới có điều kiện. Mười sáu tuổi nhưng Điền khá còi cọc. Anh chỉ huy không dám nhận. Mãi sau thấy Điền cứ lẽo đẽo theo nên anh biên chế Điền về tiểu đội "anh nuôi". Gọi là tiểu đội chứ thực chỉ có năm người do anh Quang làm A trưởng. Những ngày đầu Điền giúp các anh nhặt ngọn rau, rửa cái bát. Điền buồn lắm. Tưởng đi bộ đội sẽ được cầm súng bắn thằng tây, thằng ngụy, ai dè làm cái anh "hỏa đầu quân", chả có gì hay ho cả. Biết Điền buồn, anh Quang động viên: "Yên tâm. Trường kỳ kháng chiến cơ mà. Còn khối dịp cho cậu cầm súng. Tớ làm ở bộ phận đầu bếp cũng được bốn năm rồi đấy". Điền mở to mắt nhìn anh Quang thán phục. Bốn năm làm bếp quả là một sự kiên trì. Quang nói tiếp: "Nhiệm vụ nào cũng là đánh giặc Pháp. Mà cậu tưởng làm đầu bếp là nhàn nhã lắm hả. Phải thức khuya dậy sớm này, phải biết việc gì làm trước việc gì làm sau này, phải lo toan cơm dẻo canh ngọt này. Toàn những việc có tên và không tên. Cả đại đội gần trăm con người trông cậy vào bàn tay khéo léo của "anh nuôi" chúng ta. Để bộ đội ta ăn no đánh thắng". Điền nhìn những cái vạc, cái nồi to tướng rồi lại nhìn người Quang ngẫm nghĩ: Anh Quang hiểu cái nhìn ấy cười bảo: "Cậu đừng chê tớ bé, mang vác đều phải có mẹo. Cậu cứ yên tâm. Tớ sẽ giúp. Bước đầu tập làm quen với công việc ai chả lúng túng. À, cậu có biết chữ không”. Mặt Điền đỏ nhừ, khẽ lắc đầu. Thực ra dạo trước Điền có theo học lớp bình dân học vụ được vài tháng, chữ nghĩa viết không đầy cái lá mít."Mù chữ hả? Thôi được, gọi tớ bằng thầy tớ sẽ dạy chữ cho. Đồng ý không?". Dĩ nhiên là Điền chẳng mong muốn gì hơn. Điền sẽ cố gắng học chữ để còn viết thư về cho bố mẹ, cho người bạn gái ở quê.

Thế là từ đấy sau mỗi buổi làm việc, anh Quang lại kèm thêm Điền học chữ. Vốn ham học Điền học vào bất cứ lúc nào có thể. Giấy bút không có thì đây, than củi ê hề. Quang dạy Điền học chữ, học làm toán đố. Điền viết xuống đất, viết vào vách nứa, viết lên tường, viết vào chỗ nào có thể viết được. Nhiều chữ khó quá Quang phải cầm tay Điền uốn từng nét một. Vừa dạy Quang vừa nói chuyện với Điền về cuộc đời anh. Quê Quang ở tận Thái Bình. Anh có bằng "đíp lôm" (tương đương hết cấp 2 bây giờ), từng là giáo viên bình dân học vụ hai năm đầu cách mạng. Kể từ ngày toàn quốc kháng chiến, Quang cũng như bao học sinh lúc bấy giờ "xếp bút nghiên theo việc đao binh". Quang bảo Điền: "Cậu cố gắng học cho giỏi. Sau này kháng chiến thắng lợi, muốn kiến quốc phải có học vấn". Điền luôn mang lời dặn dò của Quang đi theo suốt chặng đời của mình.

Chiến sự ngày càng ác liệt, trung đoàn của Điền hành quân liên miên. Vì vậy thời gian học ít lắm. Nhưng Điền cũng đã viết được lá thư dài gửi về cho bố mẹ. Thì ra công việc anh nuôi đâu phải nhàn nhã, ít nguy hiểm. Nó là cả một sự sắp xếp chính xác mới có đủ thời gian hoàn thành khối lượng công việc khổng lồ. Bộ đội được ăn no mới có đủ sức khỏe đánh thắng. Nhiều lần Điền phải đội bom đội đạn mang cơm ra trận địa. Lại có lần cơm và đất đá trộn lẫn vì sức ép bom đạn, Điền phải quay về nấu đợt khác. Dạo này các cánh quân của ta đang hướng về phía tây bắc. Cái địa danh Điện Biên Phủ nghe là lạ. Nó nằm ở đâu thuộc tỉnh nào, Điền chịu. Nghe nói đấy là nơi rừng núi hoang vu, đầy hùm beo hổ báo. Đồng thời nó còn là tập đoàn cứ điểm quân sự của Pháp mạnh nhất Đông Dương. Lại nghe tướng Na-va lên tiếng thách thức tướng Giáp công phá Điện Biên. Đấy chỉ là chuyện Điền nghe lỏm của các “tham mưu con" chứ nào cấp trên đã phổ biến đâu. Nhưng hành quân lên hướng Tây Bắc là có thật. Lực lượng quân ta vào cuối năm 1953 đã hùng hậu, trưởng thành nhiều về mọi mặt. Ta có thể đánh công kiên đồn bốt của địch giữa ban ngày. Thế và lực giữa ta và Pháp là ngang bằng. Trung đoàn của Điền là một trong số ít đơn vị đầu tiên nhằm Điện Biên Phủ hành quân tới. "Ông ơi! Thế cái "ruột tượng" là của ai ạ?". Ông nội nhìn tôi âu yếm. Im lặng giây lát. Hơn năm chục năm rồi còn gì. Kỷ niệm chập chờn lúc nhớ, lúc quên.Tuổi già đầu óc đâu còn sáng láng như xưa. "Đó là kỷ vật vô cùng quý giá của đời ông". Ông tôi nói vậy và tiếp tục kể.

Đánh chiếm điểm cao A1 không hề đơn giản như các nhà chỉ huy của ta quan sát được bằng mắt thường. Ngoài hệ thống công sự vô cùng chắc chắn nổi trên mặt đất, địch còn cho xây dựng hầm ngầm chìm trong lòng quả đồi. Khi bị ta tấn công đánh phá dữ dội thì địch rút xuống hầm ngầm. Sáng hôm sau địch cho xe tăng từ trung tâm ra cùng bộ binh dưới hầm xông lên chiếm lại trận địa. Đã có những trận giáp lá cà xảy ra. Ta và địch giành giật nhau từng tấc đất. Cả hai bên đều hiểu rằng: Ai có A1 là có trung tâm Mường Thanh. Cuối cùng quân ta quyết định đào một con đường hầm từ xa ăn sâu vào lòng quả đồi, phía dưới hầm ngầm, và đặt ở đó lượng thuốc nổ rất lớn, chừng một tấn. Công việc đào hầm thật gian nan cực nhọc. Địch luôn nống ra hòng lấp cửa hầm. Tiểu đội anh nuôi cũng phải ra trận. Quang và Điền được phân công bảo vệ từ xa, ở riêng một mũi.

Một buổi trưa cuối tháng tư, hai anh em vừa vào trận địa thì bị pháo địch dập xuống như mưa. Hình như địch phát hiện ra quân ta. Một mảnh đạn pháo trúng bắp chân Điền. Vết thương vào phần mềm, nhưng lại trúng động mạch, máu chảy xối xả. Bông băng không lại, cứ trôi ra. Quang rút luôn "ruột tượng" sau lưng, vừa ga rô vừa băng lại cho Điền. Chừng hai giờ sau họ phát hiện ra một tốp bốn tên lính Pháp đang lò dò tiến vào trận địa. Bọn này vừa nhảy dù xuống để cứu nguy cho tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chúng lớ ngớ thế nào lại đi lạc vào phía sau lưng quân ta. Trên lưng thằng nào cũng đeo một cái ba lô rất to, tiểu liên “tôm xông” lăm lăm trong tay. Chúng dàn hàng ngang như đi càn, Đôi mắt chúng ngó nghiêng. Chúng tiến từ từ chậm chạp, chắc vì lo lắng sợ hãi. Chúng sợ đủ mọi thứ trên chiến trường Việt Nam. Sợ từ con rắn, con rết, sợ hùm beo, sợ nắng gắt, sợ rét buốt, sợ từ cành cây ngọn lá đến ánh trăng trên trời. Sợ nhất là mấy "ông" Việt Minh gan dạ, anh hùng. Cái gì chúng cũng sợ. Chúng luôn lạy Chúa A men. Nếu không vì sự bắt buộc của quan thầy, vì những đồng tiền đầy sức mạnh thì chẳng bao giờ chúng dám đặt chân đến mảnh đất Điện Biên đầy bí ẩn hãi hùng. Cả bốn tên lính da trắng như bột, tóc xoăn, mũi lõ. Chúng lặc lè lê từng bước khổ sở. Thỉnh thoảng thằng già nhất ngước lên nói xì xồ với thằng đi bên cạnh điều gì đấy nghe rất vội. Tất cả đang tiến gần vào điểm phục kích của hai anh em. Ngày tận số của chúng đã điểm. Số phận của chúng đã được định đoạt trong lần đến Điện Biên đầu tiên này. Hãy lạy Chúa đi, hỡi quân xâm lược. Hãy còn kịp cho mi nói lời vĩnh biệt cuối cùng với vợ con, cha mẹ. Chúng mày đã nghe tiếng thì thầm của thần chết gọi chưa? Năm mươi mét, rồi bốn chục mét. Chợt Quang huých cùi tay vào sườn Điền, nói: "Có một thằng trẻ quá. Còn trẻ hơn cả mày Điền ạ". Điền đáp: "Trẻ cũng là giặc. Bắn hết, trả thù cho đồng bào, đồng chí bị chúng giết hại". Im lặng. Bọn địch vẫn chưa biết gì về số phận của chúng. Quang lại thì thầm: "Chắc nó còn cha mẹ. Không biết nó đã có người yêu chưa? Nếu nó chết hẳn bố mẹ nó người yêu nó sẽ khóc nhiều lắm". Điền hỏi gấp gáp trong hơi thở dồn dập: "Bắn chứ?" Lần đầu tiên Điền được giáp mặt kẻ thù rõ ràng, kỹ lưỡng. Hồi hộp đến lạ thường. Dù cố nén nhưng tim Điền vẫn nhảy loạn xạ. "Bắn được chưa?" Điền sốt ruột hỏi lại. Quang trả lời: "Bình tĩnh". Điền cuống lên: "Trời ơi! Gần lắm rồi". Quang lặng người: "Thương nó trẻ quá. Chắc lần đầu sang Việt Nam. Bàn tay còn sạch sẽ. Bắn bị thương thôi nhé".  Tốp lính lê dương chỉ còn cách chừng hơn chục mét. Điền ngắm chúng kỹ hơn. Trừ thằng trẻ nhất đi ngoài cùng phía trái, còn thằng nào cũng râu quai nón xồm xoàm, mắt hau háu nhìn. Lạ thật, sao môi đứa nào cũng đỏ như vừa ăn tươi nuốt sống một con vật gì đó, chưa kịp lau máu. Ngón tay Điền đặt vào vòng cò, xiết dần. Quang phân công: “Điền bắn hai thằng phía tay phải còn tớ sẽ bắn chết thằng đi giữa và bắn bị thương thằng trẻ nhất". Xong xuôi, Quang hô lớn: "Xung phong". Dứt tiếng hô, hai anh em nhảy ra khỏi công sự.  Địch và ta nhìn nhau trong khoảnh khắc. Điền nổ súng. Hai tên đi bên phải gục xuống. Mắt chúng trợn ngược vì đau đớn, vì ngạc nhiên. Và cả vì sao cái chết lại đến với chúng nhanh thế. Còn Quang sau khi hạ tên đi giữa, mũi súng của anh hơi thấp xuống. Thằng lính trẻ dường như nhận ra điều đó. Nó quay ngoắt, nhanh tay xiết cò. Quang đứng sựng lại người hơi ngửa về phía sau. "Anh Quang ơi! Lòng tốt của anh đặt không đúng chỗ rồi! Đau xót làm sao. Một cái chết ở tuổi hai mươi lăm. Một cái chết của người giáo viên bình dân học vụ. Mẹ anh thế là không còn được gặp đứa con thân yêu nữa". Điền quay nhanh khẩu tiểu liên "tuyn" về phía kẻ thù. Có lẽ chỉ cần một viên là đủ. Bởi chính nó cũng lảo đảo vì viên đạn từ khẩu súng của Quang bắn lên lúc anh sắp ngã. Nhưng Điền đã xả nốt nửa băng đạn còn lại. Những viên đạn của hai anh em cùng găm chặt vào một kẻ thù. Ấy chính là lời gào thét của Điền giữa không trung, nơi linh hồn Quang còn đang lơ lửng: "Nó đang bắn cả chục lần vào giữa ngực. Anh Quang ơi!”.

Ông nội tôi ngừng kể. Và tôi hiểu vì sao ông nội tôi lại gìn giữ cái "ruột tượng" kia cẩn thận và lâu đến thế. Bố tôi tham gia: "Thưa ông, gần đây con thấy Bảo tàng Quân đội Việt Nam đang vận động mọi người hiến tặng những kỷ vật có liên quan tới quân đội. Theo thiển ý của con,ông nên tặng cái túi này cho bảo tàng". Ông nội cười: "Đúng đúng. Anh cả nói đúng. Vậy thì cháu yêu của ông hãy giữ lấy. Lúc nào thuận lợi mang vào bảo tàng tặng giúp ông. Đây là địa chỉ đơn vị và quê quán của ông Quang". Tôi trân trọng đón cái "ruột tượng" từ tay ông nội. Tôi hiểu ông nội tôi trao cho tôi kỷ vật quý báu kia tức là trao lại truyền thống của gia đình tôi, ba đời hoàn thành tốt nhiệm vụ của người lính Cụ Hồ.

NGUYỄN SỸ ĐOÀN

Các tin khác

 
Thăm dò ý kiến
Theo bạn, tăng viện phí sẽ :
Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Chia sẻ gánh nặng chi phí với Nhà nước
Hạn chế tiêu cực trong khám, chữa bệnh
Khó khăn cho bệnh nhân nghèo
Dư luận không đồng tình
Ý kiến khác
 
 
 
Dành cho quảng cáo