
|
Một tiết mục trong Liên hoan văn nghệ chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV
|
Tạo hoá nhiều khi có sự ngẫu nhiên đến diệu kỳ. Như cái năm Canh Ngọ-1930 không thể nào quên ấy. Giữa ngày Xuân mồng Ba tháng Hai xanh mướt màu cỏ non, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, là bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử nước nhà. Từ ấy, trong tiềm thức của mỗi người, khi nghĩ về mùa Xuân, mùa của cây cối xanh tươi nẩy lộc đâm chồi, thì cũng đồng thời nghĩ về Đảng như một biểu trưng của trí tuệ và sức sống trường tồn của mùa Xuân dân tộc. Điều ấy không chỉ là cảm nhận, mà đã ăn sâu vào tiềm thức và đời sống của toàn xã hội và mỗi người, mỗi gia đình Việt Nam từ bao nhiêu năm nay.
Cho đến bây giờ, trong chúng ta vẫn chưa mấy ai quên lớp cha ông sống giữa vùng đồng bằng thẳng cánh cò bay mà trong tay một tấc đất cắm dùi không có, suốt đời "đòn gánh tre chín rạn đôi vai" mà đói rách vẫn hoàn đói rách. Chưa mấy ai quên năm Ất Dậu (1945), nạn đói khủng khiếp đã cướp đi hai triệu rưỡi sinh linh, mãi mãi vẫn còn là nỗi đau của hàng triệu gia đình. Nhưng cũng chính từ trong biển khổ đêm dày ấy, Đảng ta ra đời và phát triển với sức mạnh Phù Đổng: 15 tuổi với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa long trời lở đất, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Từ đấy, Đảng và nhân dân, Đảng và dân tộc gắn bó keo sơn, mật thiết như nắng Xuân giục cây cối tươi xanh. Giữa phút giây ấm áp sớm Xuân nay, nhắc lại thời khắc năm 1945 không thể nào quên ấy như một sự biết ơn những năm tháng đã cho ta chất lửa, không chỉ sưởi ấm mùa đông lạnh mà còn làm bùng lên nhiệt huyết trong trái tim mình.
Thật diệu kỳ cho mỗi bước ta đi. Từ mấy mươi năm nay, mỗi bước đi lên của dân tộc đều gắn liền với mỗi kỳ Đại hội Đảng kính yêu. 5 năm sau ngày lịch sử 3-2-1930 Đảng ta ra đời, Đại hội lần thứ nhất của Đảng (tháng 3-1935) đã tạo ra phong trào quần chúng sâu rộng trong khắp các vùng miền giác ngộ và hăng hái tham gia tổ chức cách mạng, hình thành các đội vũ trang, mà đỉnh cao là Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội nhân dân ngày nay), dẫn tới cao trào Tổng khởi nghĩa giành chính quyền mùa Thu tháng Tám năm 1945 lịch sử, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Tiếp đến là Đại hội lần thứ II của Đảng (tháng 2-1951) quyết định nhiệm vụ đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", dẫn tới kết thúc chiến tranh ở Đông Dương (1954). Rồi đại hội lần thứ III (tháng 9-1960), Đại hội đầu tiên của Đảng diễn ra tại thủ đô Hà Nội, quyết định hai nhiệm vụ chiến lược quan trọng của toàn Đảng, toàn quân và dân ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà, mở ra một giai đoạn cực kỳ sôi nổi hành động cách mạng, biến lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: "Không có gì quý hơn độc lập tự do" thành hiện thực sinh động trên cả hai miền đất nước, dẫn tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975 lịch sử. Tiếp đến là Đại hội Đảng lần thứ IV (tháng 12-1976), Đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, rồi Đại hội lần thứ V (tháng 12-1982) đều quyết định bước đi quan trọng đưa cả nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa. Nhưng, như sau này Đảng ta đã nhìn nhận đánh giá một cách khách quan, khoa học, suốt thời gian dài sau đất nước thống nhất, chúng ta chậm thay đổi phương thức quản lý, duy trì quá lâu cơ chế hành chính mang nặng quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển. Chính vì dũng cảm nhìn thẳng vào hiện trạng đất nước, mà tại Đại hội lần thứ VI (tháng 12-1986), Đảng ta đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt quan trọng cho đất nước, đồng thời khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học, đưa nền kinh tế nước nhà không những thoát khỏi tình trạng khủng hoảng mà còn tạo được những bước đi ban đầu rất cơ bản cho những năm sau. Tiếp đến Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6-1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược ổn định và phát triển kinh tế đến năm 2000, mở ra thời kỳ mới đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Rồi Đại hội lần thứ VIII (tháng 7-1996), sau đó là đại hội lần thứ IX (tháng 4-2001), Đại hội đầu tiên của Đảng ta trong thập niên đầu của thế kỷ 21, mở ra một thời kỳ mới của đất nước hội nhập và phát triển, đến Đại hội lần thứ X (tháng 5-2006) và nhất là đại hội lần thứ XI của Đảng vừa diễn ra, thì quả thật những gì có được trên mọi miền đất nước hôm nay không những làm chúng ta rất đỗi tự hào, vui sướng, mà bè bạn chúng ta khắp năm châu cũng hân hoan chào đón. Không phải ngẫu nhiên mà tại diễn đàn một tổ chức lớn nhất thế giới - Liên hiệp quốc, tháng chín vừa qua, chúng ta đã nhận được tiếng nói chung ngợi ca Việt Nam là một trong những nước thực hiện tốt nhất mục tiêu thiên niên kỷ.
Không chỉ thấy trên những con đường rộng dài từ Bắc chí Nam, những thành phố, thị xã ngày thêm rộng mở, những khu công nghiệp, khu đô thị nối tiếp nhau mọc lên, mà còn có thể thấy rõ những thành quả của công cuộc đổi mới và hội nhập hơn hai mươi năm qua mang lại ngay dưới mái nhà mỗi gia đình, trong bữa cơm ăn, manh áo mặc của mỗi người. Còn nhớ những năm giữa thập niên 80, khá đông gia đình công nhân hai vợ chồng chỉ có một chiếc xe đạp. Xe đạp là của hiếm, phải gắn biển đăng ký. Còn có thể kể ra nhiều điều, ví như bữa cơm ta ăn ngày nào còn nặng mạch ngô, mì sợi, chỉ hai lạng rưỡi thịt phải mua bằng tem phiếu mà không mấy tháng được mua đúng kỳ, cả năm mới có mấy mét vải mà nhiều người vẫn chẳng mua được... Nhưng chỉ thế thôi cũng đủ nói lên nhiều điều về sự thay đổi diệu kỳ sau hơn hai mươi năm Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, giờ đây đang tiến vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mùa Xuân là mùa khởi đầu của một năm. Mùa Xuân cũng đồng nghĩa với sức sống tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống. Trong tiềm thức của người Việt Nam ta từ bao lâu nay, Đảng luôn đồng nghĩa với mùa Xuân, mang sức sống trường tồn của mùa Xuân dân tộc.
Tùy bút của CAO NĂM