Bao đời nay, học nghề làm gốm cũng như học nghề mộc đều thông qua thực hành, không có sách vở trường lớp, bố dạy con, anh dạy em, bạn bè giúp đỡ lẫn nhau dần dần thành thợ. Với phương pháp đó, nghề mộc, nghề gốm được truyền từ đời này qua đời khác. Điều đặc biệt là, thời nào các làng nghề cũng sản sinh ra những người thợ tài hoa, làm rạng danh quê hương.Tinh hoa nghề mộc Cúc BồTrong cái nắng hanh vàng của một buổi chiều cuối năm, chúng tôi về làng nghề mộc Cúc Bồ, xã Kiến Quốc (Ninh Giang). Mặc dù mới chỉ đến đầu ngõ nhà ông Hoàng Văn Nghiệp, nhưng đã nghe thấy tiếng đục đẽo chí chát. Tôi chưa gặp ông Nghiệp bao giờ nhưng cũng dễ dàng nhận ra ông vì một lẽ, chỉ có người thợ cả như ông mới vừa hăng say làm việc vừa hướng dẫn, chỉ huy những người thợ khác. Bên ấm trà nóng ông Nghiệp kể: Học hết lớp 7, tôi theo anh họ lên Tân Trào (Tuyên Quang) làm mộc, khi ấy chủ yếu là làm nhà gỗ cho người dân tộc. Được 7 năm tôi tách ra làm thợ cả, phụ trách một tổ thợ. Đến mãi năm 1986, tôi mới trở về quê mở xưởng mộc nhỏ, chuyên làm mộc dân dụng với các sản phẩm như: tủ, giường, bàn, ghế phục vụ nhân dân trong vùng. Năm 1996, từ chỗ quen biết với một số cán bộ văn hóa, tôi được giao xây dựng một ngôi chùa theo phong cách cổ thuộc khu di tích lịch sử Đền cao An Phụ. Khi ấy tôi hết sức bỡ ngỡ bởi dù làm nghề mộc lâu năm nhưng chỉ quen với mộc dân dụng. Tôi hạ quyết tâm phải làm bằng được ngôi chùa này. Tôi tìm đến những người thợ có nhiều kinh nghiệm trong nghề ở làng để học hỏi và được các cụ tận tình chỉ bảo, rồi đem áp dụng vào thực tế. Dù “vừa học, vừa làm” nhưng ngày khánh thành ngôi chùa này, chúng tôi đã được các cán bộ của ngành văn hóa đánh giá cao và được giao thêm các công trình khác. Rồi sau đó, chúng tôi thành lập HTX chuyên trùng tu, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa.
|

|
Ông Hoàng Văn Nghiệp kiểm tra các sản phẩn gỗ trước khi nắp ráp vào các ngôi đình
|
Trải qua thời gian, đội thợ của ông Nghiệp đã tham gia xây dựng, tôn tạo nhiều ngôi đình, đền, chùa đòi hỏi kỹ thuật cao ở khắp trong và ngoài tỉnh như: Đền thờ Khúc Thừa Dụ (Ninh Giang); chùa Đông An, thị trấn Vĩnh Bảo (Hải Phòng); công trình Vương triều nhà Mạc ở xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy (Hải Phòng)... Trong đó, nhiều công trình dù chỉ làm công phần gỗ nhưng tổ thợ từ 30 đến 50 người của ông Nghiệp phải làm ròng rã cả năm trời, riêng tiền công ngót nghét cả tỷ đồng. Đặc biệt, công trình đền thờ Khúc Thừa Dụ, tổ thợ của ông Nghiệp đảm nhận từ việc xây, đắp, vẽ, lợp và toàn bộ phần mộc của công trình. Đây là một công trình có ý nghĩa văn hóa to lớn, lại là công trình trên chính quê hương nên trước khi thi công, ông Nghiệp đã thuê xe cho toàn bộ tổ thợ của mình vào Ninh Bình thăm đền thờ vua Đinh, vua Lê để tham khảo nghệ thuật kiến trúc đình chùa thời Lê để về áp dụng cho công trình. Do là làm mới nên những người thợ trong tổ đã phải kiên trì đục, đẽo ngày đêm để có được những nét khắc, nét chạm tinh xảo, dựng lên một công trình kiến trúc uy nghi, tôn vinh người Anh hùng dân tộc Khúc Thừa Dụ. Ông Nghiệp tâm sự: “Làm các công trình tâm linh đòi hỏi người thợ phải có tay nghề cao nhưng cái quan trọng hơn cả là cái “tâm” của người thợ. Chỉ có sự tâm huyết, kiên trì bền bỉ, người thợ mới dựng xây nên những công trình văn hóa có giá trị lâu bền với thời gian”. Qua gần 15 năm tôn tạo, xây dựng các công trình đình, đền, chùa, ông Nghiệp giờ đã thành lập Công ty CP Tu bổ di tích Hoàng Giang. Doanh nghiệp thường xuyên giải quyết việc làm cho khoảng 30 đến 40 thợ với mức thu nhập từ 2,5 đến 4 triệu đồng/người/tháng. Giám đốc Nghiệp tự tin: “Bây giờ, chúng tôi sẵn sàng đảm nhiệm việc tu bổ, xây dựng mới các công trình đình, đền, chùa, miếu theo các phong cách cổ xưa”.
Làng mộc Cúc Bồ hiện có 3 nhóm sản xuất hàng hoá chính: Nhóm sản xuất đồ dùng gia đình và trang trí nội thất; nhóm sản xuất các mặt hàng cao cấp như: sập, tủ, bàn ghế, tượng, phù điêu... và sử dụng công nghệ truyền thống: sơn son, thếp vàng; nhóm làm kiến trúc đình, chùa, đền, miếu và tu bổ di tích. Trong đó, nhóm thứ ba khó hơn nhiều bởi sản phẩm làm ra mang đậm yếu tố tâm linh, văn hóa. Nhóm này rất “kén” thợ, bởi người làm phải có tay nghề cao, thông thạo nhiều việc, có kỹ thuật tinh xảo, thực tế phong phú. Có thể khẳng định, những người thợ tài hoa như ông Nghiệp đã và đang thực sự phát huy được tinh hoa nghề mộc Cúc Bồ, tiếp tục làm rạng danh cho quê hương, làm giàu cho bản thân và xã hội.
Quyết tâm theo nghiệp “gốm cổ”|

|
| Ông Vũ Xuân Năm hướng dẫn các thợ trẻ tạo hình gốm giải cổ |
Thôn Cậy, xã Long Xuyên (Bình Giang) là một trong những cái nôi của nghề gốm nước ta. Thời hưng thịnh, gốm Cậy được sánh ngang cùng các làng nghề gốm trứ danh: Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng... Thế nhưng về thôn Cậy bên dòng sông Sặt thơ mộng hôm nay, thật không dễ để tìm được người thợ làm gốm theo phong cách cổ xưa. Theo giới thiệu của họa sĩ Hạ Bá Định, chúng tôi tìm đến ông Vũ Xuân Năm, người còn làm và đốt gốm theo phong cách cổ. Xưởng gốm và lò gốm nhà ông Năm nằm nép mình ven tuyến đường từ Cậy về Phủ. Chúng tôi đến xưởng khi gần chục người thợ đang hăng say tạo hình gốm. Ông Năm kể, mình vừa học vừa làm gốm từ khi mới 12 tuổi. Chứng kiến những bước thăng trầm của gốm Cậy từ thời bao cấp đến thời kinh tế thị trường bung ra. Và ông đúc kết: Nghề làm gốm không giàu nhanh, có lên thì lên từ từ nhưng luôn khá giả. Nghệ thuật làm gốm của cha ông ngày xưa đã phát triển đến đỉnh cao, người thợ như ông hôm nay chỉ là học theo, làm theo lối cổ, sản phẩm gốm làm ra vì thế được gọi là “giả cổ”. Theo ông Năm để làm được gốm theo lối cổ, người thợ làm gốm phải hết sức kiên trì, nhẫn nại. Người thợ gốm giỏi là người phải thông thạo từ khâu chọn đất, tạo hình, tạo men, đốt lò... Trong đó, khâu quan trọng nhất chính là tạo hình, đây là khâu mà người học nghề được các bậc “cao nhân” rèn giũa, chỉ bảo nhiều nhất. Cũng theo ông Năm, điều làm nên sự khác biệt giữa nghệ thuật làm gốm của cha ông ngày xưa và hôm nay lại nằm ở chính lò đốt gốm. Hiện tại, ở làng gốm Cậy chỉ duy nhất còn lại một lò đốt gốm cổ của gia đình ông Năm. Lò đốt gốm cổ bằng củi sẽ cho ra lò những sản phẩm có độ bóng cao hơn, bền chắc hơn so với khi đốt bằng ga bởi thời gian đốt bằng củi lâu hơn, khói của lò như là một chất “xúc tác” tạo cho men gốm bóng hơn. Thậm chí nếu may mắn gốm đốt bằng củi có thể tạo ra sản phẩm gốm có men “Thúy hồng”, một thứ men vô cùng quý mà bất kỳ người thợ làm gốm nào cũng mong có được.
Gần nửa thế kỷ theo đuổi nghiệp làm gốm cổ, giờ đây ông Năm luôn duy trì một xưởng gốm với gần 10 người thợ. Hiện nay, mỗi năm xưởng gốm của ông Năm cho ra lò gần 2.000 sản phẩm gốm chủ yếu là các loại: chân đèn thời Trần, Lý, con nghê, lục bình, bát, ấm... Các sản phẩm này thường được xuất khẩu, hoặc bán cho các siêu thị và những người sành gốm trong cả nước. Dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, cơ sở của ông Năm có sản phẩm “chum sành rùa dâng kiếm” được trưng bày. Ông Năm được Hiệp hội Làng nghề Việt Nam công nhận là 1 trong 10 nghệ nhân toàn quốc có “Bàn tay vàng”. Đây thực sự là niềm động viên to lớn để ông bước tiếp trên con đường tìm lại thời "vàng son" của nghệ thuật gốm cổ làng Cậy.
Những người thợ như ông Năm, ông Nghiệp và nhiều người thợ khác nữa ở các làng nghề truyền thống trong tỉnh vẫn đang ngày đêm miệt mài đem đến cho xã hội những sản phẩm đẹp, tinh tế, đậm đà hồn văn hóa Việt.
VŨ ÚY