Đầu đông ở đây có những ngày mưa lất phất bay.
Buổi sáng đi từ nhà ra bến đợi xe buýt, con gái kêu lên: “Con nhớ tết ở
Việt Nam quá”.
Hoài niệm tết của con không có những buổi chiều rửa cả
yến hành cao gần bằng đầu người; vại dưa nén bốc mùi khăn khẳn chua nơi
góc bếp. Không có đôi bàn tay bợt bạt vì vo gạo, đãi đỗ, rửa lá… Thời
của mẹ, lên mười bốn, mười lăm, con gái cả xóm đua nhau làm mứt tết.
Vụng về làm mứt dừa, khéo tay làm mứt bí, mứt cà chua, mứt quất. Mứt
khoai tây ngâm nước vôi quá tay sẽ dai như da heo.
Hồi đó, mỗi gia đình hàng tháng tiêu chuẩn chất đốt
chỉ được mua chừng hai chục lít dầu đun. Gần tết phải chuyển sang mua
củi để nấu bánh chưng. Ba bốn gia đình thuê chung một chiếc nồi luộc
bánh. Bánh từng nhà gói riêng nên phải đề ra quy định nhà buộc lạt đôi,
nhà buộc lạt ba hoặc thắt thêm một nút tròn ở góc. Bếp nấu được đặt
ngay trên lối đi chung. Ba bốn giờ chiều bắt đầu bắc bếp.
Các bà vợ tranh thủ vừa nấu ăn cho gia đình vừa canh
bánh. Đến mười giờ đêm thì “giao ca” cho “chủ nhân ông”. Nhóm này
thường “yêu sách” hơn. Cạnh bếp phải có manh chiếu, ấm trà, bàn cờ
tướng, chiếc điếu cày, và đặc biệt là mấy đôi thùng đựng nước. Khi cần
tiếp vào nồi bánh, các “bố” không phải đi ra bể công cộng gánh về.
Sáng sớm hôm sau, trên chiếc chiếu sẽ ngổn ngang cốc
chén, bã chè. Phụ nữ phải phân công nhau, người dọn bếp, kẻ rửa nồi.
Chưa kể đến việc phải đem bánh sang nhà nhau đổi vì các đức ông chồng
đã quên luôn cả quy định lạt một, lạt đôi.
********************
Hoài niệm tết của con không có nỗi buồn của bà ngoại
mỗi dịp giỗ ông. Ông ngoại mất vào ngày 27 tết khi bà mới bốn mươi tư
tuổi. Lên mười, mẹ đã tập làm người lớn - nghĩa là làm chỗ dựa cho bà.
Ngày tết, mấy chị em gái tự bảo ban nhau cọ rửa soong nồi, giặt giũ
chăn màn, chẻ củi, nắm than, cắt hoa dán lên ô cửa kính. (Hồi còn chiến
tranh, chính những bông hoa bằng giấy báo đã giữ cho những mảnh vỡ nằm
nguyên trên khung cửa khi quả bom rơi ngay phía trước nhà).
Không có ông, các bác đi bộ đội đóng quân ở xa, ngày
tết nhà mình không gói bánh chưng. Mẹ biết tự mang bột mỳ đi đặt làm
bánh quy; mua rau, củ, quả về tỉa hoa làm mứt.
Bà không đi được xe đạp. Ông mất, bà chỉ loanh quanh
đi chúc tết láng giềng. Tự tay bà sửa lại chiếc áo vest cũ của ông để
mặc trong những dịp lễ lạt. Sau này, khi mẹ và các bác có điều kiện mua
biếu bà những bộ quần áo đẹp, bà để chiếc áo của ông vào trong chiếc
gối đầu.
***
Lúc các con còn nhỏ, mỗi dịp Giáng sinh, năm mới, mẹ
hay cùng các con trang trí cây thông, treo bưu thiếp lên cành đào ngày
tết. Đêm ba mươi, hai anh em hăm hở giúp mẹ cho những đồng tiền mới
tinh vào bao lì xì. Mẹ bận sắp mâm cúng sang canh, ba bố con thường đưa
nhau đi xem bắn pháo hoa ở Nhà hát thành phố.
Sau giao thừa, ông Phượng, bác Dậu, chú Hoàng sẽ cùng
về xông nhà, mở rượu và mừng tuổi cho các con “lượt đi”. “Lượt về” là
khi đến nhà nhau chúc tết. Xuất hành đầu năm bao giờ cũng về nhà ông bà
nội. Người lớn, ba ngày tết, gặp nhau là uống rượu. Trẻ con đi theo cha
mẹ để “thu hoạch” lì xì.
Đã bảy năm mẹ con mình đón tết ở xứ người. Những năm
đầu mới sang còn khó khăn, mẹ mừng tuổi, các con không dám nhận. Tết
đến, mẹ nhờ các bác trong Phái đoàn ngoại giao gói hộ bánh chưng. Chiều
ba mươi mẹ đồ xôi gấc. Bữa cơm tất niên cũng đầy đủ thịt gà, canh măng,
nem chua, giò chả… Nhưng ba mẹ con vẫn thấy chênh vênh.
Mấy năm trở lại đây, giao thừa, giáng sinh, các con tụ
tập vui cùng bè bạn. Mười tám tuổi, các con đã thành người lớn. Mẹ
thương bà ngoại ba mươi năm đón tết “một mình”.
(TT)