
|
Đầm ấm gia đình mèo
|
Ở Việt Nam, mèo khá phong phú về chủng loại và được gọi bằng nhiều tên:
mèo, miu, miêu, mão… Với mỗi loài, lại được mỗi địa phương, mỗi sắc dân
dùng một vài tên gọi đặc trưng - ví dụ mèo rừng (Việt), gọi là cáo khua
(Mường), tu hen meo (Thái), tu hin meo (Tày)…
Mèo rừng Việt Nam gồm 4 loài. Phổ biến nhất là mèo rừng thường (Felis
bengalensis), sống khắp vùng rừng núi và trung du, thân dài chừng 40-60
cm, nặng khoảng 3-5 kg, lông vàng trắng điểm những vệt và đốm đen nâu.
Ba loài kia quý hiếm hơn nhiều, đều có tên trong sách đỏ: mèo ri (hay
mèo núi, mèo rừng Á - Felis chaus), mèo gấm (Felis marmorata) và mèo cá
(hay mèo đuôi ngắn - Felis viverrina).
Mèo nhà Việt Nam có 3 loài cơ bản. Nhỏ nhất và được nuôi dưỡng nhiều
nhất là mèo mướp, nặng 2,2-2,5 kg, lông xám hoặc vàng xám với vằn nhạt.
Mèo vàng cỡ trung bình (khoảng 3-4 kg), lông vàng hoặc nhị thể trắng -
vàng. Mèo Xiêm lớn hơn (cỡ 3,5-5,5 kg), lông nâu nhạt, phớt xám tro hoặc
lang trắng - đen. Mèo đen, tam thể, tứ thể… là dạng lai của 3 loài
trên.
Con mèo là đối tượng vừa đặc biệt, vừa phổ biến trong cuộc sống vật chất
và tinh thần của người Việt Nam. Nhân dân ta biết nuôi mèo từ rất sớm
(khoảng vài trăm năm trước Công nguyên) và sử dụng nó vào nhiều mục đích
khác nhau: kinh tế, giải trí, tôn giáo. Mèo sống gần gũi, rất được quan
tâm và quý mến. Tên gọi các bộ phận cơ thể mèo được gắn liền với những
sự vật, hiện tượng tương tự (đá tai mèo, cây đuôi mèo, tóc râu mèo…).
Tập tính của mèo cũng được dùng để thể hiện những sinh hoạt đặc thù của
người (ngủ mèo, tắm mèo, trò mèo…).
Hình ảnh con mèo đi sâu vào nền văn hóa dân gian nước ta với những biểu
hiện, những hình thức phong phú và đặc sắc. Theo thống kê, người Việt
Nam (bao gồm 54 dân tộc) có đến gần 2.000 câu ngạn ngữ, phương ngữ,
thành ngữ, tục ngữ, ca dao, dân ca liên quan tới mèo! Mèo là đề tài
trung tâm của hàng trăm truyện cổ tích, ngụ ngôn, huyền thoại, giai
thoại. Mèo còn gợi nguồn cảm hứng độc đáo cho nhiều thi sĩ và nhà văn
hài hước. Mèo cũng là đối tượng nghệ thuật hấp dẫn thể hiện trên các vật
dụng sinh hoạt thường ngày, nhà cửa, nơi thờ tự… - tiêu biểu nhất phải
kể đến bức chạm Mèo và cá, tôm (1709) trên bia đá chùa Linh Quang (Hải
Phòng) hay những tượng thờ linh miêu rải rác ở các địa phương miền núi.
Hội họa dân gian Việt Nam - qua dòng tranh Hàng Trống và Đông Hồ - cũng
dành cho đề tài mèo sự ưu ái, với những tác phẩm nổi tiếng: Thanh miêu,
Đám cưới chuột… Mèo còn nhập hệ lịch can chi 12 con vật, là biểu tượng
chi Mão với những ý nghĩa triết lý - nhân văn sâu sắc. Tháng con mèo là
tháng Hai, chính giữa xuân, cây cối tươi tốt nhất, con người cũng dồi
dào sinh lực nhất và tương quan trời - đất đạt đến độ hài hòa tối đa.
BẢO HOÀN