Từ thời xa xưa, các thế hệ người Việt đã có phong tục ăn Tết Nguyên đán vào ba ngày đầu năm mới âm lịch. Ăn Tết xong lại tiếp tục chơi xuân suốt cả tháng Giêng nên ca dao có câu "Tháng Giêng là tháng ăn chơi..." với rất nhiều trò chơi dân gian thu hút đông đủ các thành phần và lứa tuổi.
Đánh đuTương truyền, gốc gác của trò chơi đánh đu ở hai bên bờ sông Thiên Đức (nay là sông Đuống) từ xa xưa. Cho đến nay, nhiều địa phương thuộc địa bàn Hà Nội và các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ vẫn tiếp tục tổ chức trò chơi này và dịp Tết và các lễ, hội...
Cây đu trồng bằng 6 hoặc 8 cột, có khi chỉ đơn giản có 4 cột tre dài hơn 15 mét, dựng trên một khu đất rộng, bằng phẳng. Hai hàng cột trồng choãi về hai phía cho vững chắc. Chỗ ngẳng đu phía ngọn các cây tre được vận, quấn bằng rơm để đỡ cho tre khỏi bị vặn, đỡ bị ma sát. Hai tay đu làm bằng cây tre "bánh tẻ", dẻo, nhỏ, vừa tầm tay người để nắm chắc khi đánh đu. Đỉnh ngọn đu phất phới hai lá cờ đuôi nheo ngũ sắc. Bàn đu lơ lửng thõng xuống nhẹ nhàng.
Đánh đu có cặp, nam nữ cùng dún mới hay. Càng dún, đu càng lên cao vút. Hai người thay nhau kẻ dún người dừng rất nhịp nhàng. Khi đu lên cao, khăn áo của hai người tung bay trong gió, nhìn thật đẹp mắt!
Nữ sĩ Hồ Xuân Hương xưa đã có bài thơ nổi tiếng về cảnh đánh đu, trong đó có đoạn:
... Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quấn hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song...Cây đu không lúc nào ngừng trong suốt ngày hội. Hội tan, cặp nào, cặp ấy lại hẹn hò nhau đi dự hội làng khác mở liên tiếp trong những ngày xuân.
Tục đu trai gái là vang bóng của tín ngưỡng phồn thực từ thuở xa xưa; song trong chế độ phong kiến cổ hủ thì nó là biểu tượng đẹp và mang tính dân chủ sâu sắc.
Trong ngày hội đầu xuân, nhiều nơi thường đặt giải thưởng thi đu, giải thưởng được buộc vào đầu một cây cần câu dài, đặt cao ngang với đỉnh cột đu. Người dún đu cao khỏi đỉnh cột sẽ với tay giật giải. Nếu để giải bị đứt rơi xuống thì coi như mất giải. Đánh đu không chỉ là trò vui, là dịp hò hẹn mà còn là môn thể thao của nam nữ thanh niên thời xưa.
Đánh cờ người 
|
Đánh cờ người
|
Kinh thành Thăng Long xưa có Chùa Vua thờ Đế Thích (vua cờ tướng) tại làng Thịnh Yên (cạnh chợ Hòa Bình - còn gọi là chợ Giời ngày nay). Hằng năm, cứ đến ngày mồng chín tháng Giêng âm lịch, nhân dân mở hội Chùa Vua trong đó có tổ chức thi đánh cờ người. Gọi là "cờ người" vì mỗi quân cờ có một người đứng giữ. Đặc biệt, hai tướng cờ thường là hai thiếu nữ được lựa chọn kỹ càng với tiêu chuẩn "đẹp người, đẹp nết" nhất vùng. Những người ham mê cờ người và cả những người không biết gì về môn này đều đổ dồn về hội rất đông vui.
Nhiều xã ở ngoại thành Hà Nội ngày nay và nhiều nơi khác cũng thường tổ chức đánh cờ người trong các ngày Tết, ngày hội... Một số vùng khác thường đánh cờ bỏi. Cờ bỏi chỉ khác cờ người ở chỗ quân cờ không có người đứng giữ mà là những tấm biển gỗ khắc hình hoặc chữ tên quân cờ cắm trên các cọc gỗ sơn màu khác nhau, có khi sơn son thiếp vàng rất cầu kỳ.
Đánh cờ người hay cờ bỏi đều có người cầm cờ phất nước đi. Tiếng trống thúc của "trọng tài" điều khiển cuộc thi đấu, tạo không khí tưng bừng, hào hứng cho cả người đánh cờ và người xem.
Bơi chải 
|
| Hội thi bơi chải |
Bơi chải (đua thuyền) là một trò chơi truyền thống có thể đã phổ biển từ thời Hùng Vương. Trên tang trống đống còn khắc ghi cảnh bơi thuyền và sinh hoạt trên sông nước của người Việt cổ nhằm mục đích cầu nước và giáo dục tinh thần thượng võ.
Riêng ở kinh đô Thăng Long, trong dịp đầu xuân và trong các lễ hội lớn, bơi chải thường được tổ chức ở các xã ven hồ Tây, ven sông Nhuệ và sông Hồng. Đặc biệt, triều đình nhà Lý thường tổ chức bơi chải ở bến Đông Bộ Đầu (khoảng gần chợ Long Biên ngày nay) kết hợp với múa rối nước và các trò vui hát múa dân gian. Tục lệ này duy trì mãi cho đến cuối thời nhà Trần và đến ngày nay càng phát triển, trở thành môn thể thao được đưa vào thi đấu ở nhiều vùng trong cả nước. Các thuyền đua đều đóng theo kiểu thuyền thoi bằng gỗ lim, gỗ táu; đầu và đuôi thuyền phỏng theo đầu và đuôi rồng chạm trổ rất tinh vi, cao vút hơn đầu người. Thuyền đủ chỗ chứa bốn mươi trai tráng ngồi dọc hai bên mạn thuyền, cùng hai người chèo lái chấp lệnh đứng điều khiển ở mũi và lái thuyền. Các đấu thủ mặc đồng phục, tay cầm bơi chèo. Người chấp lệnh và chèo lái mặc áo thụng xanh, đội khăn và thắt lưng bằng lụa màu. Những chiếc thuyền đua dàn hàng ngang trước điểm xuất phát, chờ pháo lệnh. Ngay khi pháo lệnh nổ, hàng trăm mái chèo trong tay đấu thủ đồng loạt "chải" xuống mặt nước theo tiếng hò, nhịp phách của người chấp lệnh, đưa những chiếc thuyền rẽ nước tiến lên vun vút như những con rồng bay lên phía trước.
Thổi cơm thi Thổi cơm thi là một phong tục có từ lâu đời và khá phổ biến ở nhiều làng quê Việt Nam từ xa xưa.
Vào các dịp làng mở hội hằng năm, bên cạnh các trò vui khác, thường tổ chức trò vui thổi cơm thi. Có nhiều hình thức thi khác nhau: Ở những làng cạnh sông nước thì thổi cơm thi trên thuyền thúng bập bềnh trên sóng, gió thổi tứ bề. Có nơi thổi cơm thi trên cạn. Có nơi bắt buộc vừa đi vừa thổi, hoặc vừa dỗ trẻ vừa đun nòm ướt. Dù cách nào cũng phải thổi được cơm chín, dẻo, ngon mới được giải thưởng. Có nơi ra điều kiện phải dùng mía tươi làm củi, người thi phải ăn mía lấy bã mà nấu cơm.
Tại Tây Mỗ (huyện Từ Liêm, Hà Nội) hằng năm có tổ chức thi thổi cơm theo kiểu vừa đi vừa nấu. Bất kể nam, nữ, người dự thi có cành tre dẻo như cần câu, buộc chật sau lưng, vắt đầu mềm ra đằng trước để buộc quang treo nồi đã có sẵn gạo nước. Người dự thi mang theo hai thanh giang hoặc nứa khô để kéo lửa và một bùi nhùi rơm để tiếp lửa. Cả đội đứng sẵn trước vạch vôi xuất phát, trước ngực lủng lẳng quang nồi. Một hồi trống chuẩn bị. Mọi người tước mía, nhá kỹ cho khô thành bó củi, đợi dứt hồi trống thứ hai thì nổi lửa nấu cơm và đi tới đích không được dừng lại. Qua mỗi bước đi, nồi gạo nước lại rung rinh, ngọn lửa bị gió tạt, phải khôn khéo lựa bề che đậy. Ai vừa nấu vừa đi tới đích sớm nhất, cơm vừa chín tới ngon dẻo mới giật được giải.
Tương truyền trò thổi cơm thi này nảy sinh từ thời An Dương Vương, trong hoàn cảnh vừa hành quân cấp tốc, vừa phải nấu cơm ăn.
TRƯỜNG GIANG (biên soạn)