Trong làng thơ xưa nay vẫn có thú chơi xướng họa. Thú chơi này, thường có trong các tao nhân mặc khách, trong cả các bậc vua chúa.
Thơ xướng hoạ thường phải là luật Đường, thất ngôn bát cú. Sinh thời, Phan Bội Châu (1867- 1940) có bài thơ tặng nữ sĩ Tương Phố. Phan Bội Châu là người lập Duy Tân hội, thủ lĩnh của phong trào Đông Du, linh hồn của một phong trào cách mạng thời ấy. Ông bị thực dân Pháp và triều đình Huế kết án tử hình vắng mặt, sau bị bắt, bị giam lỏng ở Bến Ngự- Huế. Tương Phố sinh sau Phan tiên sinh 30 năm, có được gặp tiên sinh. Sau cuộc chuyện trò tâm đắc, Phan tiên sinh có cho in trên Văn học tuần san bài thơ tặng Tương Phố:
Nặng vì thơ phú mới trả xong
Khi vui bút mực cũng mây rồng
Tưởng ngờ rồi kiếp cùng trời đất
Ai ngỡ còn duyên với núi sông
Mở cửa gió vào xuân hoạ vận
Cuốn mành trăng lại bạn soi lòng
Đàn Nha may gặp Chung Kỳ gái
Muôn thuở Hồng Lam với Tản Hồng.
Phan tiên sinh coi nữ sĩ Tương Phố là tri âm tri kỷ. Tương Phố đã làm bài hoạ lại:
Ngày tối đường dài việc chửa xong
Biển Đông thôi đã vướng mây rồng
Dạ hờn quên nghĩ cùng năm tháng
Máu nóng còn sôi với núi sông
Hạt lệ như sương ngầm khóc nước
Niềm thương tựa ớt những cay lòng
Anh hùng sá kể chi thành bại
Vẫn nhớ ngành Nam tổ Lạc Hồng.
Bài xướng, Phan tiên sinh viết về Tương Phố, có năm chữ vần bằng: xong, rồng, sông, lòng, Hồng. Bài hoạ, Tương Phố viết về Phan Bội Châu, giữ nguyên năm chữ ấy, niêm luật tài hoa, chu chỉnh; ca ngợi Phan tiên sinh - dòng giống Lạc Hồng, không kể đến thành bại, bất khuất.
Chợt nhớ, trong lịch sử văn chương nước ta, có lẽ thời Lê, thơ xướng hoạ thịnh đạt nhất. Mê chơi thơ xướng hoạ, thường là vào đầu xuân, vua Lê Thánh Tông đi đâu cho một hai chục văn thần đi theo. Vua ra bài xướng, các văn thần phụng họa. Từ đó mà vua lập hội Tao đàn, có 28 ngôi sao văn chương- Nhị thập bát tú. Vua Lê Thánh Tông làm Đô nguyên suý Tao đàn. Có hai văn thần trước tác giỏi, phụng họa hay là Thân Nhân Trung và Đỗ Nhuận đã được vua Lê Thánh Tông thăng cho là Đông các đại học sĩ, làm Phó nguyên suý Tao đàn. Nhị thập bát tú có 3 vị Trạng nguyên, 5 vị Bảng nhãn, Thám hoa. Trong đó, Hải Dương có các ngôi sao thơ: Vũ Dương, Nguyễn Đức Huấn, Bùi Phố, Nguyễn Hoãn, Phạm Cẩn Trực, Lưu Dịch. Vũ Dương người Mạn Nhuế, Thanh Lâm (Hải Dương), năm 22 tuổi đỗ Trạng nguyên (khoa Kỷ Sửu- 1493), làm quan đến Công bộ Thượng thư, tước Hầu. Làm thơ phụng họa bài Anh tài tử, Vũ Dương có nhiều câu thơ hay (diệu cú), đề ra trách nhiệm với các văn thần, anh tài của đất nước: Lệ từ diệu thổ Đan Sơn phượng/ Tú khí dao lăng Bích Hán vân- Nghĩa: Là bậc anh tài thì lời thơ phải đẹp như tiếng chim phượng trên núi Đan, phải có chí khí cao vượt tới mây sông Ngân xanh biếc.
Thời Mạc, có một vị ứng đối, xướng họa thơ tài. Ấy là Trạng nguyên Giáp Hải (1507- 1586). Ông người làng Kế (nay thuộc Bắc Giang). Thời kỳ giữ chức Tuyên phủ đồng tri, Giáp Hải thường phải lên Nam quan thương nghị về biên ải. Đô ngự sử Mao Bá Ôn, nhà Minh, thử tài Giáp Hải, xướng lên bài thơ Vịnh Bèo bằng chữ Hán. Bài thơ xướng có nhiều ý ngầm, tỏ ý coi thường nước ta. Giáp Hải có ngay bài thơ họa, ý tứ khiêm nhường mà sâu sắc, tỏ được bản lĩnh. Xin dẫn bản dịch của Văn đàn bảo giám:
Bài xướng của Mao Bá Ôn (trích):
Nào có gốc sâu nào có lá
Dám sinh cành nhánh dám sinh tim
Tụ rồi đã chắc không tan tác
Nổi đó nào hay chẳng đắm chìm…
Bài hoạ của Giáp Hải:
Tranh với bóng mây che mặt nước
Chẳng lo tia nắng rọi xuyên tim
Sóng dồn muôn lớp thường không vỡ
Gió táp ngàn cơn cũng chẳng chìm…
Xem bài thơ hoạ, Mao Bá Ôn nể Giáp Hải. Quan hệ bang giao “ấm lên”. Mấy viên quan nhà Minh hồi đó kính trọng, thường gọi ông là Giáp Tuyên phủ.
Xướng hoạ thơ là một thú chơi, nhưng qua đó, Vũ Dương, Giáp Hải, Hoàng Văn Hoè, Tương Phố… , đã vượt qua sự hạn chế của loại thể, bộc lộ được tâm tư, khí phách, bản lĩnh dân tộc. Với các bậc trí giả, chơi thơ mà ích quốc lợi dân vậy!
DUY PHI