
|
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm xã Ái Quốc (Nam Sách) năm 1958
|
Mùa thu 1925. Hồi ấy tôi đang làm bồi cho một khách sạn ở Hải Phòng thì một anh bạn làm bồi ở tàu Quảng Đông giới thiệu tôi xuống cùng làm với anh. Tàu này chạy đường Hải Phòng-Quảng Châu-Hương Cảng. Ngay chuyến tàu đó, tàu vừa cặp bến Quảng Châu, nghe anh em nói trong Sa Điện có một tàu chiến Pháp đang cần một đầu bếp (maitre d'hôtel), tôi đến xin. Tên quan tư thuyền trưởng thấy tôi có một ít chuyên môn, lại biết nói tiếng Pháp, nó nhận ngay.
Sống trong cảnh xa đất nước, lại không có bạn bè, tôi thường đi tìm các bạn bè người Việt Nam để nói chuyện cho khuây khỏa. Dần dần kết bạn với cả người Hoa. Thân nhất là vợ chồng anh Cẩm Xuyền. Anh Cẩm Xuyền đã ở Việt Nam, nói tiếng Việt rất thạo. Một hôm Cẩm Xuyền đưa hai thanh niên Việt Nam đến gặp tôi. Một người tên là Vương, một người tên là Ích. (Sau này tôi mới biết Vương là đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Bác Hồ của chúng ta, và Ích là đồng chí Hồ Tùng Mậu). Bác Hồ và đồng chí Hồ Tùng Mậu thường nói chuyện cho tôi nghe về những tấm gương đấu tranh chống ngoại xâm của ông cha ta để khơi dậy lòng yêu nước của tôi. Rồi kết nạp tôi vào Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội. Cùng được kết nạp với tôi có các anh Khánh và Đức. Sau đó chúng tôi được dự một lớp huấn luyện của Bác. Lớp đầu tiên là lớp Trịnh Đình Cửu, rồi đến lớp Phạm Văn Đồng.
Tháng 7-1926, tôi được phái về nước hoạt động. Trước khi lên đường, Bác hẹn tôi đến công ty Đại Tân để Bác dặn dò. Bác dặn nhiều, nhưng tựu trung có mấy việc chính.
1) Khi mới về chớ nên hoạt động ngay, để ý quan sát xem "chó" nó có theo dõi không đã.
2) Hãy tuyên truyền những bạn bè tốt trước, đưa họ vào các hội biến tướng như Hội Tương tế, Hội Ái hữu v.v... Khi số lượng đã kha khá thì chia thành từng tổ, mỗi tổ không quá 10 người; chọn những người tích cực nhất kết nạp vào Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội.
3) Tìm việc làm trên một tàu bể để liên lạc chặt chẽ với Quảng Châu, Hương Cảng.
Đúng như Bác dự đoán, về Hải Phòng tôi bị bọn "chó" bám riết. Để đánh lạc hướng chúng, tôi đi lang thang suốt ngày ở ngoài đường như người đi tìm việc làm. Ít lâu sau, thấy chúng không bám nữa tôi mới hoạt động. Chỉ trong một thời gian ngắn tôi thành lập được một Hội Tương tế gồm bồi bếp, lái xe, thợ giày da, buôn bán nhỏ. Để liên lạc với Quảng Châu tôi xin được việc thầu cơm cho anh em thủy tàu "Sông Bo". Tàu này chạy đường Hải Phòng - Hương Cảng - Quảng Châu. Mỗi khi tàu cặp bến Quảng Châu, đồng chí Đức ở chỗ Bác lại từ trong Sa Điện xuống nhận thư từ, báo cáo, và gửi tài liệu về nước. Thông qua Hội Tương tế tôi phân phát tài liệu đi các nơi, nhiều nhất là báo "Thanh niên", không những ở Hải Phòng, mà còn về các tỉnh khác. Việc phân phát tài liệu tiến hành trót lọt được mấy chuyến thì bị lộ, do một anh trong Hội Tương tế là bếp Ngữ đưa báo "Thanh niên" cho tên Nguyễn Mạnh Bổng xem để tuyên truyền. Nguyễn Mạnh Bổng, nhà văn, là anh ruột tên Việt gian Nguyễn Tiến Lãng. Y đến báo ngay với Sở mật thám. Anh bếp Ngữ bị mật thám bắt. Nhưng anh không khai ra tôi, mà chỉ khai là mượn được tờ báo của một người làm dưới tàu "Sông Bo". Bọn mật thám xuống tàu "Sông Bo" lùng sục, nhưng tôi cảnh giác đã chuồn rồi.
Thấy bọn mật thám lùng sục tôi ráo riết, các đồng chí bố trí cho tôi vào Sài Gòn công tác ít lâu để tạm lánh. Mấy tháng sau tình hình đã yên yên lại gọi tôi về. Lúc này anh Nguyễn Đức Cảnh đã ở Hà Nội xuống thay anh Nguyễn Tường Loan làm bí thư Hải Phòng. Cùng xuống với anh Cảnh có anh Chính tức Bàng Thống. Tư tưởng của các anh lúc ấy đều muốn thành lập ngay một đảng của giai cấp công nhân thay cho Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội, vì giai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành, cần phải có một chính đảng riêng của nó. Tư tưởng ấy được thể hiện rõ ràng trên báo "Cờ đỏ" của Kỳ bộ vừa xuất bản, và trong chủ trương đưa cán bộ đi vô sản hóa. Trong lớp huấn luyện của thành ủy Hải Phòng mở cho khoảng mười đồng chí ở số nhà 42 ngõ Nghè, do Bàng Thống chủ trì, tài liệu học tập cũng đều lấy ở cuốn "A.B.C du communisme" (chủ nghĩa cộng sản sơ giải) do Đảng Cộng sản Pháp xuất bản.
Ít lâu sau có cuộc họp của Tổng bộ Việt Nam Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội ở Hương Cảng. Đoàn đại biểu Bắc Kỳ sang dự gồm có Ngô Gia Tự, Dương Hạc Đính, Trần Văn Cung, Kim Tôn. Đoàn đưa ra ý kiến phải thành lập ngay một chính đảng cho giai cấp công nhân, bị hội nghị bác, đoàn bỏ ra về, thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng và ra báo "Búa liềm". Anh Ngô Gia Tự truyền đạt ý kiến của Bác bảo tôi sang gặp Bác nhận công tác mới.
Tôi trở lại Quảng Châu vào giữa năm 1929. Mới có vài năm mà ở đây đã xảy ra bao nhiêu biến cố. Bè lũ Tưởng Giới Thạch phản bội đã dìm Quảng Châu công xã vào biển máu. Việt Nam có khoảng 30 đồng chí bị bắt, nhưng sau được thả cả. Tổng bộ Thanh niên Cách mệnh Đồng chí Hội phải rời sang Hương Cảng, tô giới Anh.
Tôi chờ ở Hương Cảng mấy ngày thì được gặp Bác. Bác cho tôi biết đoàn thể đã quyết định phái tôi về Thượng Hải công tác. Hiện nay ở Thượng Hải có nhiều bà con mình làm ăn sinh sống, và binh lính người Việt, mà chưa có cơ sở cách mạng. Bác bảo điều kiện hoạt động ở đây khó khăn hơn ở Quảng Châu nhiều. Quảng Châu là đất Trung Quốc, dù sao bọn Tưởng cũng có ít nhiều cảm tình với phong trào cách mạng của các dân tộc nhược tiểu, trừ khi bọn Pháp thuê tiền thì nó mới bắt mình, chứ ở Thượng Hải thì bọn Anh và bọn Pháp câu kết chặt chẽ với nhau để đánh phá cách mạng, nên phải hết sức thận trọng, bí mật. Nhưng không vì khó khăn mà thiếu khẩn trương. Phải cố gắng xây dựng được phong trào trong vòng ba tháng...
Tôi chưa đến Thượng Hải bao giờ, lại không quen biết ai ở Thượng Hải, đấy cũng là một điều khó khăn thêm đối với tôi. Lần mò mãi mới tìm được một đồng chí trong công hội giới thiệu với một người làm y sĩ ở Thượng Hải tên là Thuyết. Gặp anh Thuyết tôi đề nghị anh tìm cho tôi một việc làm trong tô giới Pháp, làm bồi bếp hay cu ly cũng được. Anh ấy bảo tìm việc làm trong tô giới Pháp lúc này hơi khó, hãy về chỗ anh ấy mở hàng cơm làm tạm ít lâu rồi sẽ hay. Hàng cơm này do anh Thuyết, anh Ngảnh, an Trần Tam mở chung để bán cho bọn lính tráng, cả Pháp và Việt. Tôi đến làm và ăn luôn ở đây. Ít lâu sau tôi làm quen được với hai anh công nhân làm ở nhà máy ô-xy-gien Thượng Hải tên là Tư Lý và Năm Trạch. Hai anh biết tôi ở trong nước mới sang, mời tôi về nhà chơi để nghe tôi nói chuyện về tình hình trong nước, tôi được dịp tuyên truyền thoải mái. Dần dần các anh được tôi giác ngộ, anh Tư Lý bảo tôi dọn đến ở với anh cho vui. Tôi đồng ý ngay. Nhờ cắm được rễ vào mảnh đất tốt, phong trào lên rất nhanh, từ anh em công nhân sang lính khố xanh, khố đỏ. Hồi ấy ở Thượng Hải có khoảng 4.000 lính người Việt, cả ở trên doanh trại và dưới các tàu chiến.
Như vậy là tôi đã thực hiện được nhiệm vụ trước thời hạn Bác giao. Tôi báo cáo về Hương Cảng với Bác và xin thêm cán bộ. Vì con số hội viên, cả Việt kiều và binh lính, đã lên tới mấy trăm, một mình tôi làm không xuể. Sau đó ít hôm tôi nhận được một bức thư, lời lẽ như thư của người yêu gửi cho nhau, hẹn gặp tôi ở công ty Tiên Thi. Tôi đoán chắc là thư của Đảng. Hồi ấy ba đảng: Đông Dương Cộng sản Đảng, An-nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Liên đoàn đã hợp nhất thành một đảng chung, Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đúng ngày giờ hẹn trong thư, tôi đến công ty Tiên Thi, một công ty lớn của Thượng Hải lúc đó. Tôi đang chú ý nhìn người ra vào để tìm Bác thì có tiếng gọi ở phía sau:
- Nhân! Nhân ơi! - bí danh của tôi khi ở Quảng Châu - tôi quay lại thì thấy Bác. Bác hẹn tôi đến một khách sạn để nói chuyện. Sau khi nghe tôi báo cáo tình hình, Bác bảo tôi phải ra một tờ báo để tuyên truyền, vận động bà con và binh lính. Về việc tôi xin thêm người, Bác bảo để Bác về bàn với anh em đã. Nhưng chỉ hơn tuần sau thì Bác đã cho đồng chí Lê Quốc Long xuống làm việc với tôi. Đồng chí Long là người Nghệ An đã tốt nghiệp trường quân sự Hoàng Phố. Ít lâu sau nữa, Bác lại bổ sung thêm cho đồng chí Phiếm Chu, đồng chí Lê Quang Đạt và nữ đồng chí Đức. (Đạt và Đức sau xây dựng gia đình với nhau). Thực hiện chỉ thị của Bác, chúng tôi ra tờ báo "Giác ngộ" chung cho cả Việt kiều và binh lính. Sau thấy đa số hội viên trong tổ chức là binh lính, chúng tôi ra báo "Kèn gọi lính" cho binh lính người Việt và binh lính người Pháp. Việc đưa lọt báo chí và truyền đơn của ta xuống các tàu chiến là nhờ có một y tá trong binh lính Pháp là anh Chánh, đảng viên, người Nam Bộ, và một anh cai người khu năm. Các anh này hằng ngày có nhiệm vụ đi lĩnh thuốc và thư, báo về tàu, nên cái túi thuốc và thùng thư của các anh mang về không bị khám. Do đó báo có rất đều trong ngăn kéo hoặc túi áo của các sĩ quan Pháp...
Bác rất quan tâm đến phong trào ở Thượng Hải. Đọc các bài báo của chúng tôi viết, Bác phê bình lúc đầu thì thiên về chủ nghĩa yêu nước, sau lại thiên về chủ nghĩa vô sản quốc tế. Đảng ta chỉ có một con đường là kết hợp chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa vô sản quốc tế để đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Bác đến Thượng Hải 4 lần. Lần thứ hai, Bác giới thiệu tôi với Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Bà Thái Xướng lúc ấy còn là cán bộ giúp việc Trung ương, thường hẹn gặp tôi trong một khách sạn khá lịch sự. Các đồng chí Trung Quốc thường xuyên cung cấp tài liệu cho chúng tôi, và phân phát giúp tài liệu, truyền đơn của chúng tôi vào những điểm theo bản đồ hướng dẫn của chúng tôi. Sau thấy việc trực tiếp với Trung ương Đảng bạn cách bức quá, chúng tôi đề nghị cho trực tiếp với Tỉnh ủy Giang Tô, cấp trên của Thượng Hải, vì Thượng Hải chưa có thị ủy trực thuộc Trung ương.
Phong trào đang lên thì vào cuối tháng 5-1941, do có nội phản, tôi bị bắt. Sau đó là Lê Quốc Long, Phiếm Chu, Lê Quang Đạt, cô Đức. Để bảo vệ bí mật cho Đảng, Lê Quốc Long đã nhảy từ tầng gác 4 xuống đất tự tử. Còn Lê Quang Đạt thì đã khai hết việc làm của chúng tôi với địch. Sau này bị giải về nước, vào Sở mật thám thấy chúng nó cho Đạt với Đức ở chung một xà lim, chúng tôi mới biết là Đạt phản. Phiếm Chu bảo tôi: "Nó khai gì thì khai, mặc xác nó, tao với mày chết thì thôi, chứ nhất định không chịu khai một điều gì có hại cho Đảng với địch". Chúng tôi đã giữ trọn lời hứa ấy với nhau.
Thế là từ đấy, sau hơn mười năm ở tù với hai lần vượt ngục, tôi mới được gặp lại Bác ở Tân Trào, trong hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương mở rộng để quyết định Tổng khởi nghĩa.
(Trích hồi ký của đồng chí Nguyễn Lương Bằng)
HỌC PHI ghi