Một lần tôi nghe ông nói: "Nhiều kỷ niệm sâu sắc trong đời tôi thường vào mùa xuân"... Ông kể: Mùa xuân năm Tân Tỵ (1941), tôi được ăn Tết lần đầu tiên với Bác Hồ ở biên giới. Năm 1940 Canh Thìn, tháng Chạp thiếu chỉ có 29 ngày. Hai mươi chín Tết được coi là ba mươi. Mọi công việc đều gấp rút, vội vã".
"Trước
Tết, Bác còn mở lớp chính trị ở Nậm Quang trên đất Quảng Đông (Trung
Quốc) cho một số thanh niên cách mạng. Lên lớp thường xuyên có các anh
Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng và tôi".
Ông nhớ lại: "Hôm chia tay lớp học đúng vào ngày 19
tháng Chạp ta. Bác cho số anh em về nước ăn Tết, ai có cơ sở nào về cơ
sở ấy. Theo phong tục ở địa phương, mấy anh em chúng tôi chia nhau đi
ăn Tết khắp nơi nhà trong bản. Nhân dân từ lâu sẵn có cảm tình với Cách
mạng Việt Nam, đón tiếp mọi người thật ân cần, niềm nở. Tôi được cùng
Bác đi thăm các gia đình chúc Tết.
Bác mặc bộ quần áo người Nùng, màu chàm, đầu vấn
khăn, bước đi nhanh nhẹn. Đến mỗi nhà Bác đều tặng một tờ giấy hồng đều
viết chữ Trung Quốc bằng mực tàu: Chúc mừng năm mới! Tuy chỉ vào mỗi
nhà trong chốc lát, nhưng nhà nào cũng lưu luyến, già trẻ trong nhà đều
muốn giữ Bác ở lại...".
Ông bâng khuâng như nhớ lại bản làng biên giới xa
xôi mùa xuân năm ấy, phảng phất trong hương khói, trong sương mờ. "Năm
ấy, Tết có mưa xuân, trên đường mòn, có những cây đào nở hoa, gợi nỗi
nhớ thương. Năm ấy tôi 30 tuổi...".
Một
lần khác, ông kể tiếp: "Từ khi Bác về biên giới, Bác luôn chú trọng đến
vấn đề liên lạc với Trung ương ở xuôi. Theo chỉ thị của Bác và quyết
định của Liên Tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng, vấn đề Nam tiến được đặt ra. Tôi và
đồng chí Thiết Hùng phụ trách Ban xung phong Nam tiến, có nhiệm vụ mở
con đường từ Nguyên Bình qua Ngân Sơn, Chợ Rã để nối liền với Chợ Chu,
Đại Từ.
Công việc đang tiến hành thì địch khủng bố. Bác và
Liên Tỉnh uỷ nghe tin khủng bố, cho cán bộ vào đón chúng tôi trở về cơ
quan. Chúng tôi đề nghị với Bác cho ở lại cùng cán bộ địa phương chống
khủng bố, giữ cơ sở. Một hôm địch lùng ráo riết, các đồng chí liên lạc
dẫn chúng tôi đi suốt đêm, hết núi lại khe, đường đi không có, trời mưa
tầm tã, đêm tối như mực.
Đến sáng, sương mù dày đặc, gần nửa buổi bỗng sương
tan, chúng tôi thấy mình đang ở trên ngọn đồi trọc gần làng, dưới chân
đồi, nhìn rõ bọn lính đang đi lùng sục. Chúng tôi phải bò qua bụi rậm
đến ven rừng, xế chiều mới đến một đỉnh núi cao, thoát khỏi vòng vây
của giặc.
Trải qua biết bao gian khổ trên con đường Nam tiến
cho đến cuối năm 1943, con đường Nam tiến đã thông, tôi lên đường về
xuôi, gặp một số cán bộ Bắc Sơn, mừng vui vô hạn, họp nhau kể chuyện,
trao đổi kinh nghiệm. Đêm khuya rải lá cọ nằm ngủ giữa rừng. Năm ấy tôi
về đến Cao Bằng thì vừa đúng hôm ba mươi Tết...".
Ngừng kể câu chuyện, ông ngồi im lặng dưới bóng nắng
một ngày cuối xuân thưa thớt ở khu vườn. Bất chợt, ông nói: "Cứ tưởng
qua năm mới là bớt đi gánh nặng. Nào ngờ đúng vào bấy giờ, cuộc đại
khủng bố của địch ở Cao-Bắc-Lạng lại bắt đầu...".
Ông đi dạo trong vườn, trên con đường nhỏ, qua hàng
cây mộc già nua, lốm đốm những chùm hoa trắng. Mùa xuân đang đi qua
thật lặng lẽ tưởng như đang khẽ chạm vào mùi hương để tưởng nhớ...
Ông kể: "Ở Cao Bằng, mùa này có hoa bioóc cà, thơm
ngào ngạt. Cuối năm 1944, Đội Tuyên truyền Giải phóng quân từ biên giới
về, bấy giờ đã gần Tết, nhân dân đón tiếp rất nồng nhiệt, dọn bàn ghế
cạnh đường, bày cỗ, đợi bộ đội về để khao quân. Trong ba ngày Tết,
nhiều anh chị em thanh niên, nhiều cụ phụ lão bỏ nhà đi ăn Tết với bộ
đội. Chẳng bao lâu, phong trào kháng Nhật cứu nước dâng lên cuồn cuộn.
Rồi Đại hội Tân Trào. Rồi Nhật đầu hàng - Cách mạng Tháng Tám bùng nổ.
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra đời...".
Mấy năm sau, nhân làm tư liệu phim về những năm đầu
Cách mạng, tôi lại nghe ông kể tiếp: "Giữa tháng Giêng 1946; tôi được
Chính phủ phái vô Nam công tác một chuyến ngắn ngày, giữa lúc cuộc
kháng chiến Nam Bộ và Nam Trung Bộ đang diễn ra ác liệt. Tôi rời Hà Nội
ngày 18 tháng Giêng, qua Nghệ An, qua Đèo Ngang, vào Huế, vào Quảng
Ngãi, Bình Định, Quy Nhơn, tới Khánh Hoà.
Lúc này giặc Pháp đang tấn công Nha Trang, máy bay
địch thả bom và bắn liên thanh xuống thành phố. Tinh thần chiến đấu của
bộ đội và nhân dân rất quyết liệt. Chúng tôi rẽ lên Tây Nguyên, qua đèo
Mang Giang, đến Plây Cu, bộ đội đã chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, đóng
quân dã chiến ngoài thị xã.
Ở Công Tum, đồng bào các dân tộc hồ hởi kéo đến gặp
đại biểu chính phủ ở Toà sứ cũ. Mọi người đều nói đến Bok Hồ và tin
tưởng vào Cách mạng. Sáng hôm sau chúng tôi quay ra sớm theo đường An
Khê.
Tối 30 Tết, xe đến chân đèo Hải Vân. Xe lên đèo,
trời bắt đầu mưa, xung quanh tôi là một biển sương mù, một bên đường là
vực sâu, một bên là vách đá dựng đứng, gió qua đèo hun hút. Xe trôi
xuống dốc như vào nơi vô tận.
Tôi nhìn ra màn đêm thăm thẳm dưới chân đèo, vẫn lập
loè ẩn hiện một ánh đèn, không biết có nhà dân nào còn đang thức đợi
giao thừa... Thế rồi trải qua tám cái Tết kháng chiến ở trong rừng, cho
đến mùa xuân 1954, bước vào chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ".
Năm 1984, kỷ niệm 30 năm chiến thắng Điện Biên Phủ.
Tôi chạy ra sân bay Điện Biên đón Đại tướng. Ông bước xuống sân bay,
lặng lẽ và bình thản. Trên đường băng vẫn còn những tấm nan sắt của sân
bay cũ còn sót lại. Trong những đám cỏ mọc lên những đoá hoa nghệ vàng.
Trong một cuốn phim tư liệu cũ, tôi thấy có cảnh một chiến sĩ ta trúng
đạn, gục ngã bên một bụi hoa ở sân bay Mường Thanh, soi kỹ là hoa nghệ
vàng.
Ông ngỏ ý muốn đi thăm lại Mường Phăng, nơi đặt Sở
chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ năm 1954. Ngôi nhà nằm trên sườn núi
Mường Phăng trong rừng cây dẻ. "Hạnh phúc lớn nhất đối với người cầm
quân là được ở bên bộ đội ngay tại mặt trận - Ông nói - Hễ có thời
gian, tôi lại lên đỉnh núi, dùng ống nhòm quan sát trận địa, cảm thấy
như mình đang được ở chiến hào, bên cán bộ và chiến sĩ".
Bẵng
đi mấy năm, tôi không được gặp ông để làm tư liệu. Tôi vẫn bâng khuâng
nhớ là chưa hỏi ông về cái Tết Giáp Ngọ năm 1954 ở Điện Biên. Cho đến
khi được làm bộ phim về ông, tôi mới nghe ông kể: "Đấy là cái Tết nhiều
kỷ niệm nhất trong cuộc đời của tôi khi tôi lựa chọn quyết định đánh
chắc, thắng chắc thay cho đánh nhanh, thắng nhanh trong chiến dịch Điện
Biên. Suốt đêm 29 Tết, tôi vẫn còn đang tiếp tục theo dõi việc kéo pháo
ra. Các đơn vị kéo pháo phải báo cáo lên từng giờ. Gần sáng, các đơn vị
kéo pháo báo cáo hoàn thành nhiệm vụ.
Sáng mồng một Tết, sương lạnh vẫn còn bao phủ khắp
núi rừng. Một cảm giác thanh thản tràn ngập trong lòng. Tôi tin rằng
trận đánh năm nay nhất định thắng. Tôi đi sang cơ quan tác chiến chúc
Tết anh em: "Chúc các đồng chí năm mới mạnh khoẻ, giành nhiều
thắnglợi!". Nhìn ra ngoài trời, hoa ban đã nở trắng trên sườn núi...".
Mùa xuân Ất Mão 1975, mùa xuân kỳ diệu nhất trong
một thế kỷ, một đời người, mùa xuân toàn thắng của dân tộc. Ông nói
những lời này vào năm 2001, khi ông đã 90 tuổi và đã qua 25 cái Tết sau
ngày đất nước thống nhất. Trước mắt tôi là một cụ già bé nhỏ, mang quân
hàm Đại tướng, người đã cầm quân đánh tan hai đế quốc lớn Pháp và Mỹ
trong cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại, kéo dài hơn 30 năm.
Ông kể rằng: "Mùa xuân đến khi Tổng hành dinh đang
chỉ đạo chiến dịch Tây Nguyên, đòn tấn công đầu tiên trong kế hoạch
chiến lược cơ bản đã được Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương duyệt theo
quyết định. Anh Văn Tiến Dũng cùng các anh Đinh Đức Thiện, Lê Ngọc Hiền
và một số cán bộ, tổ chức thành một bộ phận đại diện Quận uỷ Trung
ương và Bộ Tư lệnh ở chiến trường miền Nam, mang bí danh Đoàn A75.
Quyết định được giữ tuyệt đối bí mật. Theo quy ước,
anh Dũng lấy bí danh là Tuấn, tôi bí danh là Chiến. Đoàn A75 lên đường
vào ngày mồng 5 tháng Hai, đúng vào lúc nhân dân đang tưng bừng chuẩn
bị đón xuân Ất Mão. Anh em hẹn nhau đánh địch trước rồi ăn Tết sau,
nhất định phải thắng. Đón xuân trong Tổng hành dinh, từng giờ chúng tôi
theo dõi hành trình của Đoàn A75, biết toàn đoàn hành quân bí mật, an
toàn, đón giao thừa ở Ia Đrăng, đến Tây Nguyên vào đầu năm mới âm lịch.
6 giờ 30 phút sáng ngày 10.3, dưới sự yểm trợ của
pháo binh chiến dịch, các chiến sĩ Sư đoàn 316 tiến đánh Buôn Ma Thuột.
Chiến dịch Tây Nguyên mở đầu thắng lợi giòn giã. Buôn Ma Thuột đã được
giải phóng. Mùa xuân dồn dập tin thắng trận kéo dài suốt cho đến 10 giờ
sáng ngày 30 tháng Tư, Tổng hành dinh nhận điện: Xe tăng đang tiến vào
Sài Gòn. 11 giờ 30 phút, có điện của anh Lê Trọng Tấn báo cáo: Cờ đã
cắm trên dinh Độc Lập!
Xúc động đến trào nước mắt. Chiến dịch Hồ Chí Minh
toàn thắng. Lẫn vào tiếng loa phóng thanh, tiếng reo hò, hoan hô chiến
thắng vang dậy khắp phố phường. Ban đêm, một mình tôi trong phòng làm
việc, niềm vui lắng xuống, nước mắt lại trào ra. Tôi nhớ đến mùa xuân
năm nào còn ở biên giới ăn cái Tết đầu tiên với Bác Hồ, khi ấy tôi mới
30 tuổi - Cho đến hôm nay...".
Tôi viết những dòng này vào một đêm Xuân năm 2009,
vị tướng của Nhân dân đã bước vào mùa xuân 99 của đời người. Vậy mà
tưởng như cuộc hành trình vừa mới bắt đầu. Ông thường hay nhắc chúng
tôi "Đừng bao giờ quên cái gốc của mình là TỪ NHÂN DÂN MÀ RA - ở nơi
đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đừng phụ tấm lòng trông đợi của
nhân dân...".
Tận nơi sâu thẳm của trái tim, tôi nhớ tới một ngọn
đèn đêm ba mươi Tết năm 1946, dưới chân đèo Hải Vân trong câu chuyện kể
của Đại tướng "Xung quanh tôi là một biển sương mù... Tôi nhìn ra màn
đêm thăm thẳm dưới chân đèo, vẫn lập loè ẩn hiện một ánh đèn, không
biết có nhà dân nào còn đang thức đợi giao thừa"...
(Theo Tuần Việt Nam)