Không chỉ là biểu tượng sức mạnh, có giá trị văn hoá cao, là nguồn thực
phẩm bổ dưỡng quý hiếm và nguyên liệu cho một số ngành đặc biệt, hổ còn
mang tác dụng y dược đa dạng. Gần như tất cả các bộ phận từ cơ thể nó
đều có thể đem chế được thành thuốc, dùng để tăng sinh lực, phòng
chống, chữa trị hiệu quả nhiều bệnh ở người.
* THỊT HỔ: Là món đặc sản quý hiếm, thơm ngon, bổ dưỡng, có tác dụng y dược hiệu quả nên rất được ưa chuộng. Nó mang vị ngọt, hơi chua, tính bình, không độc, ăn vào sẽ trừ tà, ích khí, khoẻ gân, mạnh xương, trợ dương, lưu huyết và là thuốc đặc trị các bệnh dạ dày, lá lách, sốt rét, nôn mửa. Có thể nấu riêng thịt hổ hoặc nấu kèm một số gia vị, thuốc thực vật khác như gừng, hành, tỏi, câu kỷ, đỗ trọng, đương quy, hoàng kỳ, xuyên khung.
* TIẾT HỔ: Có tác dụng tăng cường tinh thần, thể lực và hoá giải, phân huỷ các chất độc nguồn gốc khoáng vật. Hoà vào rượu uống, nó là thuốc bổ máu, chữa chứng biếng ăn, mệt mỏi, chóng mặt, huyết áp thấp.
* MỠ HỔ: Vị hơi cay, ấm nóng, đặc trị trĩ và nôn mửa. Lấy mỡ hổ bôi xoa vào vết chàm (eczéma), hắc lào, ghẻ lở, mụn nhọt… sẽ đem lại tác dụng tốt vì mỡ hổ giàu vitamin F ngăn chống hữu hiệu những bệnh ngoài da và bôi kín các vết bỏng, vết thương sẽ có tác dụng làm mau lành, chóng lên da non. Còn nếu đem mỡ hổ hoà với rượu, đun nóng, uống sẽ trị chứng đột cảm, trúng gió và xoa bóp sẽ chữa được đau nhức gân, cơ, xương.
* GÂN HỔ: Có tác dụng làm khoẻ gân, cơ, mạch, chữa tê thấp, đau gân. Dùng bằng cách ngâm vào rượu mạnh hoặc hầm với táo tàu, ăn nóng.
* ÓC HỔ: Chần, nấu hoặc hấp cách thuỷ rồi ăn, nó giúp bổ thần kinh, hết mệt mỏi, làm nhuận da, cường thận và chữa các bệnh tê bại liệt. Nếu đem óc hổ ngâm rượu, bôi xoa sẽ đặc trị mụn nhọt.
* DẠ DÀY HỔ: Là thuốc hữu hiệu chữa bệnh đau dạ dày. Dùng dưới dạng luộc, xào hoặc nấu cháo ăn.
* MẬT HỔ: Được dùng bôi, xoa bóp để làm tan những vết bầm dập, tụ máu do bị ngã, bị thương, tác dụng gần bằng mật gấu. Hoà loãng với nước ấm, nó trở thành thuốc tra, rỏ chống đau mắt và uống chữa táo bón, kiết lỵ. Còn nếu phơi khô, mài với nước lạnh, uống sẽ chữa được chảy máu cam ở trẻ em, sốt nóng, vàng da.
* THẬN HỔ: Ngâm vào rượu uống hoặc thái nhỏ nấu với rau cải cúc, ăn sẽ trị được tràng nhạc.
* SỎI THẬN HỔ: Đặc trị chứng suy nhược cơ thể, đau yếu lâu ngày. Liều lượng mỗi ngày dùng 0,1 - 0,2g dưới dạng bột riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác mà uống.
* TINH HOÀN HỔ: Dùng bằng cách ngâm vào rượu mạnh uống hoặc hầm ăn cùng một vài vị thuốc thực vật, nó giúp tăng sinh lực, làm sáng mắt, thông phổi, dẻo gân cơ, đặc trị các chứng suy thận, liệt dương và bệnh lao.
* MẮT HỔ: Chữa được chảy máu cam, co giật, mắt trợn, chân tay co quắp ở trẻ em, ứ huyết ở người lớn, dùng dưới dạng phơi sấy khô, tán bột, hoà nước hoặc ngâm tươi vào ruợu uống.
* MŨI HỔ: Lấy mũi hổ rửa sạch, thái nhỏ, nấu cháo nhừ với hành hoa, tía tô, trẻ em ăn sẽ hết bị động kinh, co giật.
* RĂNG HỔ: Đem phơi khô, tán bột, hoà nước uống chữa trị hiệu quả các bệnh điên, dại, cuồng dục và hen suyễn.
* RÂU MÉP HỔ: Đốt thành than, tán bột, rắc vào chân răng sẽ đặc trị chứng đau răng.
* ĐUÔI HỔ: Chữa được các bệnh về da, dùng bằng cách hầm kỹ để ăn hoặc ngâm vào rượu mạnh mà uống.
* DA HỔ: Lấy bì hổ thái nhỏ, nấu nhừ với rau sam, ăn sẽ chữa dần khỏi các bệnh tâm thần.
* LÔNG HỔ: Đốt tạo khói xua đuổi sạch rắn rết, ruồi muỗi. Còn nếu đem đốt thành than, tán mịn, rắc vào vết loét, vết thương sẽ có tác dụng sát trùng cao, nhanh lên da non, chóng lành.
* XƯƠNG HỔ: Vị mặn, cay, hơi tanh, tính ấm, tác động vào hai kinh thận và can, có tác dụng bổ dương, trừ thấp, trục phong hàn, mạnh gân cốt, giảm đau nhức.
Để chữa lưng, chân tê liệt, co rút đau đớn, lấy xương ống chân hổ và xương sống hổ, lượng bằng nhau, đập nát, nướng vàng, ngâm rượu, để gần bếp cho nóng 7 ngày, rồi uống đến khi đi đại tiện được thì thôi.
Để chữa cước khí, đem xương hổ (đau lưng thì dùng xương sống, đau chân thì dùng xương ống chân) đập vỡ, bôi mỡ hoặc váng sữa, nướng vàng, tán bột, ngâm vào rượu, khi dùng hâm rượu cho nóng mà uống.
Để chữa đau nhức khớp xương, lấy xương đầu hổ bôi mỡ hoặc váng sữa, nướng vàng, giã nhỏ, ngâm rượu trong 5 ngày đêm rồi uống.
Để chữa ống chân lở loét, đem xương hổ tán bột, dùng rắc vào vết lở loét sau khi rửa sạch bằng nước vò lá hẹ.
Để chữa bỏng lửa chưa phồng da, lấy xương hổ đốt thành than, tán bột, trộn đều với lòng trắng trứng gà, bôi hàng ngày.
Đặc biệt, lấy xương hổ làm sạch, phơi hoặc sấy khô, sau đó ngâm với rượu gừng rồi vớt ra, xếp vào nồi nhôm, đổ nước ngập độ gần một ngón tay, ninh nấu kỹ, lọc lấy dung dịch, cô đặc lại sẽ được cao hổ cốt. Có thể chỉ dùng riêng xương hổ - cao chế ra sẽ có ảnh hưởng và hiệu quả mạnh, nhưng dạng mềm, khó bảo quản lâu ngày; hoặc dùng xương hổ phối hợp với các vị thuốc thực vật hay với xương một số động vật khác (gấu, khỉ, sơn dương) - cao chế ra có tác dụng không mạnh bằng, nhưng cứng, chắc, đóng được thành bánh và giữ được lâu hơn. Cao hổ cốt là vị thuốc quý cổ truyền, có tác dụng bổ dương, tăng lực, trợ sức, đặc trị các chứng bệnh đau nhức gân xương, tê thấp, suy nhược cơ thể, đi lại khó khăn, chân tay co quắp, thoái hoá cột sống. Dùng nó dưới dạng chia từng miếng nhỏ rồi ngâm vào rượu hay trộn với cháo nóng; hoặc cắt từng lát mỏng, ngậm trong miệng cho tan dần.
AN HÒA