
|
| Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc trong ngôi nhà sàn ở chiến khu Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp |
Kế thừa và vận dụng sáng tạo luận điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về dân chủ với tư cách là một hình thức nhà nước, “Một trong những hình thái của nhà nước”, Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đặt nền móng và có công lao lớn nhất xây dựng nền dân chủ kiểu mới, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.
Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền XHCN, chúng ta thấy thể hiện ở một số điểm lớn như sau:
Một là, theo Hồ Chí Minh, xây dựng nhà nước ta thành một nhà nước dân chủ, một chế độ dân chủ thực sự “của dân, do dân, vì dân”. Đây là nền tảng chính trị, là cốt lõi biểu hiện để xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam. Theo đó, dân chủ vừa là bản chất, vừa là điều kiện, là tiền đề để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Luận điểm đó được thể hiện rất rõ trong tác phẩm Dân vận (1949), Người viết:
“Nước ta là nước dân chủ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra
Nói tóm lại, quyền hạn và lực lượng đều ở nơi dân”Theo Hồ Chí Minh “Chính phủ là chính phủ của nhân dân, chính phủ phải hứa với dân. Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh”. Đó là một nhà nước chịu sự kiểm soát của nhân dân, “Tất cả các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe và chịu sự kiểm soát của nhân dân” (điều 6, Hiến pháp năm 1959). Vì vậy, trong mối quan hệ với nhân dân, Chính phủ do nhân dân “bầu ra” thay mặt nhân dân để phụng sự Tổ quốc và nhân dân, để thực hành những công việc do nhân dân “uỷ quyền”. Người chỉ rõ: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ, Chính phủ là đầy tớ của nhân dân. Nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ”. Rằng: “Nhân dân là ông chủ nắm quyền, nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy”.
Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, là tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước XHCN ở Việt Nam. Đây chính là đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền ở nước ta, nó khác về chất so với nhà nước quân chủ chuyên chế và các chế độ chính trị đối lập khác.
Hai là, theo Hồ Chí Minh, để xây dựng nhà nước pháp quyền bảo đảm quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thì điều hết sức cấp thiết và quan trọng là việc nhà nước phải ban hành Hiến pháp và pháp luật , hệ thống pháp luật phải thể hiện được đầy đủ, đúng đắn ý chí của nhân dân; đồng thời Hiến pháp và các đạo luật phải giữ vị trí tối thượng trong điều chỉnh quan hệ thuộc tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mọi cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và tất cả công dân đều bình đẳng và tuân thủ theo Hiến pháp và pháp luật. Cho nên, ngay từ khi cách mạng nước ta chưa giành được chính quyền, trong "Bản yêu sách tám điểm gửi Hội nghị Véc-xây" (đăng trên báo Nhân đạo, năm 1919) Hồ Chí Minh đã nêu tám yêu sách, với hai đòi hỏi cơ bản: Một là, đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam; Hai là, để bảo đảm quyền tự do, dân chủ ấy, đòi hỏi phải quản lý xã hội bằng các đạo luật, nhất là Hiến pháp. Đến "Việt Nam yêu cầu ca" năm 1922, tư tưởng này được nói rõ hơn: “Bảy xin Hiến pháp ban hành, trăm điều phải có thần linh pháp quyền”.
Ba là, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền còn thể hiện trong quyết tâm xây dựng và bảo vệ Nhà nước hợp hiến, hợp pháp của Việt Nam, một quốc gia thống nhất, dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Cho nên ngay trong tình thế cách mạng Việt Nam ở thời điểm cam go “nghìn cân treo sợi tóc”, một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ, Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ lâm thời xác lập nền tảng dân chủ và pháp quyền cho chế độ Nhà nước cách mạng, đó là tổ chức tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp dân chủ. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo, tôn giáo, dòng giống”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và bảo vệ nền độc lập, chủ quyền thống nhất của dân tộc Việt Nam và có vị thế bình đẳng với các quốc gia hợp hiến, hợp pháp trên thế giới, thể hiện trong lời kêu gọi Liên hợp quốc (năm 1946) Người viết: “Chính vì tinh thần ấy mà Chính phủ chúng tôi trình bày với Hội đồng bảo an về cuộc xung đột hiện nay và đề nghị Hội đồng vui lòng chấp nhận những điều mà chúng tôi đã nói ở trên để vãn hồi hoà bình trong một phần thế giới này, để cho Hiến chương Đại Tây Dương được tôn trọng và để khôi phục lại những quyền cơ bản của Việt Nam là được thừa nhận độc lập dân tộc và thống nhất lãnh thổ”.
Suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phấn đấu, hy sinh không mệt mỏi cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trong suốt 24 năm trên cương vị Chủ tịch nước, Người đã trực tiếp chỉ đạo Quốc hội soạn thảo và hoàn thiện Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959. Tinh thần của hai bản Hiến pháp đó đã chứa đựng những đặc trưng cơ bản giá trị phổ biến của một nhà nước pháp quyền, một nhà nước dân chủ cộng hoà có tính pháp lý, có cơ sở pháp lý vững chắc được Người xác lập, gây dựng và đang trở thành hiện hữu ở nước ta.
Tư tưởng về xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN đã được Đảng ta phát triển và thể hiện trong các văn bản Đại hội VII. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (1991) khẳng định: Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ gắn liền với công bằng xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, thông qua hoạt động của nhà nước do dân cử ra và bằng các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể chế hoá bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm. Trong văn kiện Đại hội VIII (1996), Đảng ta coi xây dựng Nhà nước pháp quyền là một trong 5 quan điểm cần quán triệt trong việc tiếp tục cải cách, đổi mới nhà nước, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước XHCN Việt Nam. Đến Đại hội IX, qua tổng kết những thành tựu nghiên cứu lý luận và thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền, Đảng ta coi “Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng” là một nhiệm vụ có tính chiến lược và xuyên suốt trong giai đoạn cách mạng mới. Quan điểm đó của Đảng đã được thể chế hoá tại điều 2 Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi năm 2001): “Nhà nước XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Văn kiện Đại hội X tổng kết lý luận và thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta không những tiếp tục khẳng định chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền trong Đại hội IX, mà còn ghi nhận: “Có nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản” là một đặc trưng mô hình CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng.
Tiến sĩ LÊ XUÂN HUY
(Trường Chính trị tỉnh)